vanban.org

Bản án 02/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị L về việc yêu cầu anh Đinh Văn N bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho cháu Phạm Thái Quốc Đ. Buộc anh Đinh Văn N phải bồi thường cho cháu Phạm Thái Quốc Đ số tiền 87.321.948 đồng (tám mươi bẩy triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi tá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Kiện đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/DS-ST
Ngày: 26 - 05 - 2022
V/v Đòi i th ng thi t h i về
sức khỏe.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ông Quách Xuân Luyện.

2. Bà Lê Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: ông Đặng Trần Kim Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 05 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2021/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2021 về việc “Đòi i th ng thi t h i về sức khỏe”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/QĐST - DS ngày 29/04/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Thái Thị L - sinh năm 1968; địa chỉ: thôn A H, xã T H, huyện T L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

2. Bị đơn: anh Đinh Văn N - sinh năm 1995; địa chỉ: thôn V T N, xã L C, huyện T L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* T i đơn khởi ki n đề ngày 01/11/2021, iên ản hòa giải ngày 18/02/2022, ngày 21/03/2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là à Thái Thị L trình bầy: khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/7/2020, con trai bà là cháu Phạm Thái Quốc Đ đi học thêm bằng xe máy điện biển kiểm soát MĐ1 - 200... trên đường quốc lộ 1A, khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Mậu Chử, xã Thanh Hà thì đã đâm vào đống đá lớn (loại đá mạt dùng để đổ nền nhà) của anh Đinh Văn N đổ ra lòng đường tràn vượt cả ra ngoài vạch kẻ trắng (vạch liền) của đường quốc lộ 1A và đập mặt vào thành xe cải tiến của anh Đinh Văn N dùng để chở vật liệu xây dựng đang để sát đống đá. Hậu quả cháu Đ bị thương nặng cụ thể gãy xương hàm dưới góc hàm bên phải; sập vỡ toàn bộ hàm răng dưới rách cằm và gãy vĩnh viễn 03 răng cửa, tổn thương não trong. Sau khi bị tai nạn cháu Đ được gia đình đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đã khoa tỉnh Hà Nam sau đó chuyển đến bệnh viện Việt Đức khám rồi tiếp tục được chuyển đến bệnh viện Răng hàm mặt Trung Ương để mổ cấp cứu và điều trị thương tích nhiều lần tại bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương. Sau khi điều trị ngày 11/8/2020 bà đã có đơn đề nghị khởi tố vụ án gây cản trở giao thông đường bộ gửi Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Thanh Liêm, ngày 27/11/2020 bà nhận được Thông báo kết luận giám định số 250/ĐTTH của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm, thông báo về tỷ lệ tổn thương cơ thể của con trai bà là cháu Phạm Thái Quốc Đ do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 20%, sau đó bà tiếp tục nhận được Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự số 58/ĐTTH ngày 28/12/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm.

Trong quá trình điều trị cho cháu Đạt anh Đinh Văn N mới bồi thường cho bà số tiền 12.000.000 đồng sau đó anh N không tiếp tục bồi thường cho bà. Vì vậy, bà khởi kiện buộc anh Đinh Văn N phải bồi thường cho con bà các khoản chi phí gồm: tiền thuốc và chi phí khám chữa bệnh cả 03 đợt là khoảng hơn 20.000.000 đồng có hóa đơn kèm theo; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe đi viện đợt 1 và đi viện đợt 3 là 10.000.000 đồng; tiền bồi thường mất 20% sức khỏe là 30.000.000 đồng; tiền mất thu nhập của người đi chăm sóc của 02 đợt là 18 ngày x 500.000 đồng/01 ngày = 9.500.000 đồng; tiền xe đi lại cho cả 03 đợt là 3.500.000 đồng; tiền dự tính chi phí khi cấy ghép răng là 84.500.000 đồng; tiền khám giám định 1.142.000 đồng tổng là 160.480.000 đồng, được trừ đi số tiền 12.000.000 đồng anh N đã đưa cho bà; anh N còn phải tiếp tục bồi thường cho bà số tiền 148.480.000 đồng.

* T i ản tự khai ngày 06/12/2021 và các iên ản hòa giải - ị đơn anh Đinh Văn N trình bày:

Ngày 02/7/2020, anh có thuê ô tô đổ vật liệu xây dựng (đá mạt dùng để đổ nền nhà) trước phòng trọ anh đang ở sát với đường quốc lộ 1A, việc đổ vật liệu xây dựng này có tràn lòng đường tràn vượt cả ra ngoài vạch kẻ trắng (vạch liền) của đường quốc lộ 1A. Sau khi ô tô đổ đá mạt xong anh dùng xe cải tiến và xẻng để xúc đá mạt lên xe cải tiến đổ vào nền phòng trọ. Khoảng 18 giờ cùng ngày, trong lúc anh đang vận chuyển thì em Đ con bà Thái Thị L điều khiển xe máy điện chạy trên quốc lộ 1A hướng Ninh Bình - Phủ Lý đã đâm vào đống đá mạt làm xe máy điện do em Đ điều khiển đổ ra đường, em Đ ngã sấp mặt về phía trước xô vào người anh và bị thương tích tại vùng miệng của em Đ. Sau khi em Đ bị tai nạn anh đã đưa em Đ vào phòng trọ sơ cứu đồng thời thông báo cho gia đình em Đ biết, khi gia đình em Đ đến anh đã cùng gia đình em Đ, đưa em đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam. Sau khi khám tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà nam thì bà L mẹ em Đ yêu cầu phải đưa em Đ lên Hà Nội khám, anh nhất trí, nhưng vì lúc này anh cũng bị thương tích khi em Đ ngã xô vào anh nên anh không đi cùng. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam anh có đưa cho bà L (mẹ Đ) 2.000.000 đồng để lo viện phí, sau đó có đưa tiếp 10.000.000 đồng cho bà L để lo việc thăm khám cho em Đ. Sau khi em Đ đi điều trị về anh cùng gia đình có đến nhà em Đ hỏi thăm và tìm hướng giải quyết. Khi nói chuyện với bà L anh có nói đây là sự việc không ai mong muốn và là lỗi hỗn hợp nên có đề nghị hỗ trợ cho em Đạt 50.000.000 đồng nhưng bà L không nhất trí do vậy các bên chưa tìm được hướng giải quyết.

Nay bà Liên mẹ em Đ khởi ki n yêu cầu anh phải i th ng số tiền 148.480.000 đồng thì anh không nhất trí, anh chỉ nhất trí bồi thường cho em Đ tiền thuốc, cho phí khám chữa bệnh cả 03 đợt là khoảng 20.000.000 đồng, tuy nhiên hiện nay anh không có khả năng chi trả do vậy đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

* T i iên ản lấy l i khai ngày 14/3/2022 cháu Ph m Thái Quốc Đ trình ầy:

Chiều ngày 02/7/2020, cháu đi học thêm bằng xe máy điện BKS MĐ1-200... đây là chiếc xe máy điện mẹ cháu (bà L) mua cho để cháu đi học. Chiều ngày 02/7/2020, khi cháu điều khiển xe đi trên quốc lộ 1A cháu có mang theo mũ bảo hiểm nhưng không đội, khi lưu thông cháu đi xe với vận tốc khoảng 30 km/h khi đi đến km 234 thuộc địa phận thôn Mậu Chử, xã Thanh Hà thì đã đâm vào đống đá mạt do anh N đổ tràn ra lòng đường quốc lộ nhưng không có cảnh báo gì làm cháu bị ngã xe đâm vào đống đá người bay ra khỏi xe và đập mặt vào xe cải tiến của anh N đang để ở mặt đường quốc lộ 1A, sau khi tai nạn anh N đã đưa cháu vào trong nhà đồng thời yêu cầu yêu cầu anh N thông báo cho mẹ cháu là bà Thái Thị L. Hiện tại sức khỏe của cháu bình thường thỉnh thoảng xương hàm nơi bị gãy vẫn bị đau đồng thời bị mất vĩnh viễn ba răng cửa. Về việc yêu cầu bồi thường cháu nhất trí như trong nội dung đơn khởi kiện mẹ cháu đã nộp tại Tòa án.

* ác minh t i BND x Thanh Hà, huy n Thanh Liêm, t nh Hà Nam xác định: tại báo cáo của Ủy ban nhân dân xã trước Hội đồng nhân dân xã về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế năm 2020 thì mức thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã Thanh Hà năm 2020 là 52.000.000 đồng/01 người/ 01 năm.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Thái Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có ý kiến đề nghị Tòa án buộc anh N phải bồi thường cho bà tiền thu nhập bị mất của người đi chăm sóc cháu Đ trong thời gian cháu nằm viện điều trị tại các bệnh viện là 19 ngày x 200.000đ/ngày là 3.800.000 đồng.

- Bị đơn anh Đinh Văn N không nhất trí với mức yêu cầu đòi bồi thường của nguyên đơn mà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình; bị đơn, chưa thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Trong vụ án này do cháu Đ cũng có một phần lỗi nên anh N không phải bồi thường toàn bộ các chi phí hợp lý cho thương tích của cháu Đ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các điều 13, 33, 56, 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị L buộc anh Đinh Văn N phải có trách nhiệm bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho cháu Phạm Thái Quốc Đ, chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cháu Đ trong thời gian điều trị với số tiền từ 84.123.000 đồng đến 91.823.000 đồng đối trừ số tiền 12.000.000 đồng anh Ngọc đã bồi thường cho cháu Đ, anh N còn phải bồi thường tiếp cho cháu Đ số tiền còn lại.

Bác các yêu cầu khác của đương sự.

Án phí: Nguyên đơn không phải nộp, Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của bà Thái Thị L có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” quy định tại khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn là anh Đinh Văn N hiện đang cư trú tại xã L C, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm.

Về nội dung: khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/7/2020, con trai bà Thái Thị L là cháu Phạm Thái Quốc Đ đi học thêm bằng xe máy điện khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Mậu Chử, xã Thanh Hà thì đã đâm vào đống đá lớn (loại đá mạt đùng để đổ nền nhà) của anh Đinh Văn N đổ ra lòng đường quốc lộ 1A, tràn vượt cả ra ngoài vạch kẻ trắng (vạch liền). Hậu quả cháu Đ bị thương cụ thể gãy xương hàm dưới góc hàm bên phải; sập vỡ toàn bộ hàm răng dưới rách cằm và gãy vĩnh viễn 03 răng cửa, tổn thương não trong. Sau khi bị tai nạn cháu Đ được gia đình đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đã khoa tỉnh Hà Nam sau đó chuyển đến bệnh viện Việt Đức khám rồi tiếp tục được chuyển đến bệnh viện Răng hàm mặt Trung Ương để mổ cấp cứu và điều trị thương tích nhiều lần tại bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã điều tra, xác minh, nhưng do kết quả giám định thương tích của cháu Phạm Thái Quốc Đ là 20% (hai mươi phần trăm), nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã không khởi tố vụ án hình sự theo quy định, do vậy bà Thái Thị L đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu anh Đinh Văn N phải bồi thường thiệt hai sức khỏe cho cháu Phạm Thái Quốc Đ. Như vậy, việc anh Đinh Văn N đổ vật liệu xây dựng tràn ra lòng đường quốc lộ 1A đã vi phạm khoản 2 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và là nguyên nhân chính gây thương tích cho cháu Phạm Thái Quốc Đ. Do cháu Đ chưa đủ 18 tuổi, nên bà Thái Thị L (mẹ đẻ cháu Đ) khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Đinh Văn N phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho cháu Đ là có căn cứ.

Xét yêu cầu của bà Thái Thị L thấy rằng:

1. Đối với chi phí phí tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam: tại Hóa đơn bán hàng số 0028722 ngày 02/7/2020 ghi số tiền 1.192.000 đồng (chẩn đoán hình ảnh & thăm dò chức năng và khám bệnh) có căn cứ chấp nhận.

1.1. Đối với chi phí phí tại Bệnh viện Việt Đức: tại Hóa đơn bán hàng số 00700391 ngày 03/7/2020 ghi số tiền 1.473.141 đồng (công khám, xét nghiệm, CĐHA và TDCN, thủ thuật, thuốc) có căn cứ chấp nhận.

1.1.2 Đối với chi phí phí tại Bệnh viện Răng hàm mặt trung ương: tại phiếu thu số 307.316 ngày 03/7/2020 ghi số tiền 50.000 đồng (khám bệnh theo yêu cầu); tại phiếu thu số 307.318 ngày 03/7/2020 ghi số tiền 400.000 đồng (sơ cứu vết thương phần mềm vùng hàm mặt); tại phiếu thu số 307.317 ngày 03/7/2020 ghi số tiền 390.000 đồng (chụp X Quang) tại Hóa đơn bán hàng số 0295880 ngày 13/7/2020 ghi số tiền 7.034.000 đồng (DVKT. thuốc); tại bản kê chi phí điều trị nội trú từ ngày 15/01//2021 đến ngày 22/01/2021 (các chi phí cụ thể được thể hiện trong bảng kê này) ghi số tiền 8.133.200 đồng có căn cứ chấp nhận.

1.1.3 Đối với yêu cầu tiền khám giám định là 1.142.000 đồng nhưng nguyên đơn chỉ xuất trình được ba hóa đơn, tại Hóa đơn bán hàng số 0080046 ngày 17/11/2020 ghi số tiền 38.700 đồng (khám bệnh); tại Hóa đơn bán hàng số 0080074 ngày 17/11/2020 ghi số tiền 80.000 đồng (chẩn đoán hình ảnh & thăm dò chức năng); tại Hóa đơn bán hàng số 0081206 ngày 20/11/2020 ghi số tiền 162.600 đồng (chẩn đoán hình ảnh & thăm dò chức năng), với tổng số tiền là 281.300 đồng nên HĐXX chỉ chấp nhận số tiền có hóa đơn.

1.1.4 Đối với chi phí thể hiện tại phiếu khám răng tại Nha khoa Happy dental ngày 23/01/2021 ghi số tiền là 1.500.000 đồng.

1.1.5 Đối với chi phí thể hiện tại tại phiếu thu số 328.888 ngày 24/8/2020 ghi số tiền là 250.000 đồng (lấy cao răng và đánh bóng hai hàm).

* Tổng chi phí cho việc khám bệnh của cháu Đ tại ba bệnh viện là 18.953.641đồng. Đây là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, cần chấp nhận toàn bộ. Đối với tiền 1.500.000 đồng tại Nha khoa Happy dental, không ghi rõ khám chữa bệnh gì và số tiền là 250.000 đồng lấy cao răng và đánh bóng hai hàm thể hiện tại phiếu thu số 328.888 ngày 24/8/2020 không thuộc chi phí hợp lý cho việc cứu chữa nên không chấp nhận các khoản chi phí này.

1.1.6 Đối với tiền thuê phương tiện: bà L yêu cầu bồi thường khoản tiền thuê Taxi đưa đón 02 mẹ con đi điều trị tại các bệnh viện cho cả 03 đợt (Bệnh viện Đa khoa Hà Nam; Bệnh viện Việt Đức; Bệnh viện Răng Hàm mặt trung ương) là 3.500.000 đồng. Bà L không có hóa đơn, chứng từ chứng minh cho số tiền đã chi này. Xét thấy,số tiền này là cao nên hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần cụ thể là 2.692.000 đồng.

1.1.7 Đối với thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cháu Đ trong thời gian điều trị: tại Bệnh viện Đa khoa Hà Nam; Bệnh viện Việt Đức cháu Đ không phải nằm điều trị nội trú. Tại bệnh viện Răng Hàm mặt trung ương cháu Đạt nằm điều trị nội trú 02 (hai) đợt; đợt 1 từ ngày 03/7/2020 đến ngày 13/7/2020; đợt 2 từ ngày 15/01/2021 đến ngày 22/01/2021, như vậy số ngày cháu Đ nằm điều trị tại bệnh viện là 19 ngày, tại phiên tòa bà L yêu cầu anh N phải bồi thường với số tiền là 200.000 đồng/ ngày tổng cộng là 3.800.000 đồng là có căn cứ chấp nhận yêu cầu cầu này.

1.1.8 Đối với yêu cầu bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe cho cháu Đ; cháu phải nằm điều trị 19 ngày do vậy bà L yêu cầu anh N phải bồi thường tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 10.000.000 đồng là hợp lý nên chấp nhận yêu cầu này của bà L.

- Đối với yêu cầu bồi thường mất 20% sức khỏe là 30.000.000 đồng của bà L thấy: yêu cầu này của Bà L là cao không phù hợp quy định của pháp luật nên chỉ chấp nhận ở mức 15.000.000 đồng.

1.1.9 Đối với số tiền làm răng giả bà L yêu cầu số tiền là 84.500.000 đồng. Xét thấy cháu Đ bị mất răng 11. 12, 22 vỡ ổ chân răng hàm trên trong thời gian điều trị tại Bệnh viện RHM Trung ương Hà Nội bác sỹ đã đưa ra các mức giá ghép xung, làm trụ răng (Implamt) và làm răng giả (BL35) tuy nhiên đây là chi phí dự toán, cháu Đ chưa làm phẫu thuật. Làm việc với Khoa Răng hàm mặt - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam thì quy trình điều trị tại BL 35 là đúng. Tuy nhiên do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam chưa làm các thủ thuật trên nên không thể cung cấp được giá tiền. Hiện nay cháu Đ chưa ghép xương, làm trụ răng (Implamt) và làm răng giả. Do đó cháu Đ phải ghép xương, làm trụ răng (Implamt) và làm răng giả nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận ở mức 74.300.000 đồng.

Tổng chi phí cứu chữa, bồi dưỡng sức khỏe, bồi thường sức khỏe bị mất, tiền thu nhập bị mất của người đi chăm sóc, tiền xe, chi phí ghép xương, làm trụ răng (Implamt) và làm răng giả cho cháu Đ là 124.745.641 đồng.

Tuy nhiên trong vụ việc trên lỗi chủ yếu và là nguyên nhân chính dẫn đến cháu Đ bị tổn hại sức khỏe là do anh Đinh Văn N đổ đá ra lòng đường. Còn đối với cháu Phạm Thái Quốc Đ cũng có lỗi đó là điều khiển xe máy điện không đội mũ bảo hiểm, mặt khác theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 60 Luật giao thông đường bộ quy định “a) Ng i đủ 16 tuổi trở lên đ ợc lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh d ới 50 cm3” như vậy tính đến ngày 02/7/2020 cháu Đ 15 tuổi 07 tháng 18 ngày chưa đủ tuổi điều khiển xe máy điện. Do đó lỗi trong vụ việc này là lỗi hỗn hợp nên anh N không phải bồi thường toàn bộ các chi phí hợp lý cho thương tích của cháu Đ mà chỉ phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của anh.

Về án phí: nguyên đơn được miễn án phí; bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 13; khoản 1 Điều 33; các điều 56, 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị L về việc yêu cầu anh Đinh Văn N bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho cháu Phạm Thái Quốc Đ. Buộc anh Đinh Văn N phải bồi thường cho cháu Phạm Thái Quốc Đ số tiền 87.321.948 đồng (tám mươi bẩy triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng). Đối trừ số tiền 12.000.000 đồng (đã bồi thường) như vậy anh N còn phải bồi thường tiếp cho cháu Đ số tiền 75.321.948 đồng làm tròn 75.322.000 đồng (bẩy mươi lăm triệu ba trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

2. Án phí dân sơ thẩm: anh Đinh Văn N phải nộp 3.766.100 đồng làm tròn 3.766.000 đồng (ba triệu bẩy trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ