vanban.org

Bản án 02/2021/LĐST — Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Tr.

Buộc Công ty TNHH D Long có nghĩa vụ trả ông Nguyễn Hoàng Tr số tiền lương từ ngày 01/9/2020 đến ngày 07/10/2020 và hai ngày làm thay người khác với số tiền 3.790.000đ (ba triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "đòi tiền lương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 Bộ luật Lao động; Điều 47 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ VĨNHLONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/LĐ-ST
Ngày: 04 – 3 – 2021
“tranh chấp đòi tiền lương”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cù Quý Nữ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Tâm

2. Ông Nguyễn Tấn Tài

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Quyên – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2020/TLST- LĐ ngày 14 tháng 12 năm 2020 về “tranh chấp đòi tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXX-ST ngày 07 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng Tr, sinh năm 1966

Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Công ty TNHH D (vắng)

Địa chỉ: Số F, đường Ph, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc H – Giám đốc

Địa chỉ: Số B, khóm TQ, phường Tr, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/11/2020 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Tr trình bày:

Ông có hợp đồng làm việc cho Công ty TNHH D từ tháng 12/2018 đến ngày 07/10/2020, trong thời gian này ông được phân công làm việc tại mục tiêu Điện lực thành phố Vĩnh Long. Đến ngày 07/10/2020 thì ông được phân công đến mục tiêu khác, vì điều kiện khó khăn nên ông không đi được, nên ông Nguyễn Văn Nghị (quản lí) có đề nghị ông liên hệ ban giám đốc công ty nhưng không gặp được, sau đó ông Nghị báo lại là Công ty điều ông đến mục tiêu khác ở Hòa Phú nếu đi thì sáng hôm sau có mặt còn không đi thì hết ca trực thì nghỉ. Đến ngày 15/10/2020 ông nhờ ca trưởng nhận lương tháng 9/2020 giúp ông thì ông được báo lại đến công ty gặp ông Nguyễn Hòa Qu, phó giám đốc để giải quyết. Khi gặp ông Qu ông Qu nói rằng do ông không chấp hành điều động của Công ty nên Công ty không trả lương cho ông. Ông có gửi đơn yêu cầu Công đoàn thành phố Vĩnh Long giải quyết nhưng, đến lần thứ hai ông Nguyễn Văn Nghị đại diện cho Công đoàn của Công ty đến nhưng không đồng ý yêu cầu của ông và không kí tên biên bản.

Tòa án đã thông báo thụ lý, thông báo về phiên hòa giải cho bị đơn theo đúng quy định pháp luật, triệu tập các đương sự đến tòa để giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Ngày 03/3/2021 Tòa án có nhận được tường trình cùng ngày của bị đơn nêu thể hiện nội dung: do ông Tr có thời gian làm việc khá lâu và có kinh nghiệm nên được Công ty chuyển sang mục tiêu mới nhưng ông Tr không chấp hành, Công ty cũng đã gửi lệnh điều động mời ông Tr về công ty làm việc trực tiếp với Ban giám đốc nhưng ông Tr cũng không chấp hành. Đối với tài liệu chứng cứ mà Tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ thì do thay đổi nhân sự quản lý nên hồ sơ của ông Tr bị thất lạc nên không cung cấp được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả tiền lương thời gian ông đã làm việc nhưng chưa được nhận từ ngày 01/9/2020 đến ngày 07/10/2020 bằng 01 tháng 07 ngày làm việc, trong đó có 02 ngày ông trực thay người khác, tính là 1 tháng lương bằng 3.300.000đ + 990.000đ (09 ngày lẻ) – 500.000đ ông đã ứng lương =3.790.000đ. Bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

Về ý kiến giải quyết vụ án, áp dụng các Điều 32,35, 39, 91,244 BLTTDS 2015; các Điều 37, 47, 90, 94, 96 BLLĐ 2012; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tr, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả ông Triệm số tiền lương cho ông là 3.790.000đ. Án phí sơ thẩm bị đơn phải chịu toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: nguyên đơn khởi kiện bị đơn tranh chấp tiền lương, bị đơn có trụ sở thuộc địa bàn thành phố Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 32,35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015).

2/4

Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự tham gia phiên tòa, nhưng bị đơn vắng mặt nên căn cứ Điều 227 BLTTDS 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về điều luật áp dụng: nguyên đơn và bị đơn tranh chấp về tiền lương phát sinh từ tháng 10/2020, do đó áp dụng Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản có liên quan để giải quyết.

Về nội dung: hợp đồng lao động giữa ông Tr và bị đơn là sự việc thực tế có xảy ra được các bên thừa nhận. Trong quá trình thực hiện công việc, bị đơn cũng có xác nhận ông Tr làm việc cho bị đơn cũng khá lâu và có kinh nghiệm nên được bị đơn chuyển công tác đi nơi khác nhưng do ông Tr không chấp hành lệnh điều động, nên giữa các bên đã chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 07/10/2020. Việc ông Tr yêu cầu trả tiền lương trong khoản thời gian ông đã làm việc là yêu cầu chính đáng, trong suốt quá trình Tòa án thụ lý vụ án phía bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, đồng thời bị đơn cũng chưa có đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh nào để bác bỏ được yêu cầu của ông Tr, do bị đơn không trả lương trong những ngày làm việc cho ông Tr có ông Phạm Văn Xiêm ca trưởng mục tiêu bảo vệ xác nhận, nên buộc bị đơn phải trả tiền lương cho ông Tr là phù hợp theo quy định tại Điều 36, 47, 90, 96 BLLĐ, buộc bị đơn phải trả tiền lương cho ông Tr với số tiền 3.790.000đ.

Án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với số tiền bị buộc trả là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 36, 47, 90, 96 BLLĐ năm 2012; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Tr.

Buộc Công ty TNHH D Long có nghĩa vụ trả ông Nguyễn Hoàng Tr số tiền lương từ ngày 01/9/2020 đến ngày 07/10/2020 và hai ngày làm thay người khác với số tiền 3.790.000đ (ba triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền trên thì phải chịu trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 468 BLDS 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

3/4

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).

Ông Tr được miễn tạm ứng án, án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết theo quy định pháp luật để xin Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ