- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy T phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 02/2021/HS-ST Ngày: 05/01/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đoạt
Bà Phạm Hồng Gái
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên tòa: Ông Lƣơng Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021 Tại trụ sở TAND huyện Hòn Đất, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-HS ngày 16/12/2020 đối với bị cáo:
Lê Duy T – Sinh ngày 01/01/1969.
Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ 5, khu phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh K.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh;
Tôn Giáo: Không
Trình độ văn hóa: Lớp 9/12;
Nghề nghiệp: Tài xế
Họ tên cha: Lê Duy T, sinh năm 1946
Họ tên mẹ: Võ Thị B, sinh năm 1952
Anh (chị) em ruột: gồm 4 người, nhỏ nhất – không biết tuổi (đã chết); bị cáo là người lớn nhất trong gia đình.
Họ tên vợ: Võ Kiều Đ – 1975; Nghề nghiệp: Buôn bán
Con: 01 người - Sinh năm 2000
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2020 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Kiều Đ, sinh năm 1975.
Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ 5, khu phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2017 Lê Duy T cùng vợ là Võ Kiều Đ đứng ra mua một chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi, nhãn hiệu FORDTRANSIST với giá 800.000.000 đồng của công ty FORD An Giang, T và vợ là Đ thế chấp xe ô tô 16 chỗ ngồi này (Biển số 68B-01530) cho Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế - Việt Nam chi nhánh An Giang vay số tiền 640.000.000 đồng để trả cho công ty xe FORD An Giang, trả góp cho Ngân hàng mỗi tháng hơn 10.000.000 đồng. Mục đích mua xe về để hợp đồng chở khách khi có người thuê.
Đến khoảng 9 giờ sáng ngày 13/8/2020 T có hợp đồng chở 7 người khách từ xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đi đám tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang với giá 1.200.000 đồng lượt đi và về. Sau khi điều khiển xe 68B-015.30 chở khách đến huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang xong khách cho biết không về và trả tiền thuê xe cho T 600.000 đồng, trên đường về T ghé vào một quán võng ven đường (không nhớ tên, địa chỉ) để nghỉ, trong lúc nằm nghỉ T hỏi chủ quán là người phụ nữ dân tộc khơme, ở đây có ai bán thuốc lá điếu nhập lậu không? Được người phụ nữ chỉ T chạy lại đoạn đường vắng gần chợ Tịnh Biên thì có người đến hỏi bán, T chạy xe đến địa chỉ trên thì có 01 người đàn ông và 01 người phụ nữ đến thỏa thuận mua bán, T đồng ý mua 2.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, giá 13.500đ/bao và 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet với giá 16.000đ/bao, tổng số tiền là 41.750.000 đồng. Sau khi nhận đủ 3.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên T cất giấu trên xe 68B-015.30 vận chuyển về Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, mục đích để bán lại kiếm tiền lời. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày T điều khiển xe ô tô 68B-015.30 vận chuyển số thuốc lá điếu trên về đến khu phố Tri Tôn, thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất thì bị Phòng cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Kiên Giang và Công an huyện Hòn Đất kiểm tra phát hiện bắt quả tang
Tang vật thu giữ gồm: 2.500 bao thuốc là điếu nhãn hiệu Hero; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet; 01 xe ô tô hiệu FORD TRANSIST, loại 16 chỗ ngồi, số máy RATTORQ4D244L; số khung T4MFHAR61979; biển số 68B-015.30, hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đang tạm giao cho chủ sở hữu là bà Võ Kiều Đ quản lý để chờ xử lý.
Tình tiết tăng nặng: không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thể hiện thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, người phạm tội tự thú, mới phạm tội lần đầu.
Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKS-HĐ ngày 24/11/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất đã truy tố bị cáo: Lê Duy T về tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại khỏan e khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Duy T về tội danh và điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 191, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Lê Duy T từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên tịch thu tiêu hủy 2.500 bao thuốc lá điếu hiệu Hero, 500 bao thuốc lá điếu hiệu Jet; Trả lại 01 xe ô tô hiệu FORD TRANSIST, loại 16 chỗ ngồi, số máy RATTORQ4D244L; số khung T4MFHAR61979; biển số 68B-015.30 cho chủ sở hữu là bà Võ Kiều Đ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Kiều Đ có ý kiến: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho tôi được nhận lại chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi biển số 68B-015.30 do tôi đứng tên chủ sở hữu.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo ăn ăn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do đó có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 13/8/2020, tại khu phố Tri Tôn, thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, Lê Duy T đã có hành vi dùng xe ô tô khách loại 16 chỗ ngồi, vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điều nhập lậu với số lượng 3.000 bao thuốc lá điếu các loại (gồm 2.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero; 500 thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet) đây là hàng hóa nhập lậu Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn. Vậy hành vi của Lê Duy T đã phạm vào tội: “Vận chuyển hàng cấm” được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu bị Nhà nước cấm tuy nhiên do ham lợi mà bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, do đó cần áp dụng một hình phạt thích đáng để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo là người phạm tội tự thú (bị cáo tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất 720 bao thuốc lá điếu nhập lậu mà bị cáo cất giấu trong nhà. Số thuốc là điếu nhập lậu này bị cáo vận chuyển vào ngày 07/8/2020), bị cáo phạm tội lần đầu; gia đình khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét về nhân thân của bị cáo khi lượng hình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo là người phạm tội tự thú, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy những vật chứng liên quan đến việc phạm tội. Trả lại cho chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi biển số 68B-015.30 cho chủ sở hữu là bà Võ Kiều Đ theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
[7] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Duy T phải chịu án hình sự theo quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác: Quá trình điều tra Lê Duy T tự nguyện khai báo vào ngày 07/8/2020 T có hợp đồng chở khách từ huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đến huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang, đi và về giá tiền 1.500.000 đồng. Trong thời gian chờ khách về, T chạy xe đến một quán võng nằm nghỉ, lúc này có 2 T niên đi xe mô tô đến quán có chở theo 2 bao tải thuốc lá điếu để bán cho chủ quán, thấy vậy T hỏi mua mục đích vận chuyển về huyện Hòn Đất bán lại kiếm tiền lời, mua xong tổng cộng 720 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 370 bao thuốc lá điếu hiệu Hero; 350 bao thuốc lá điều hiệu Jet) T cất giấu dưới gầm ghế ngồi của xe ô tô, về đến nhà T đem toàn bộ số thuốc lá vào nhà cất giấu để từ từ bán lại cho các tiệm tạp hóa, nhưng chưa bán được. Sau khi bị bắt giữ T tự nguyện giao nộp số thuốc lá trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất. Qua xem xét T có hành vi tàng trữ hàng cấm số lượng 720 bao thuốc lá điếu nhập lậu, nhưng chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòn Đất đề nghị và được Chủ tịch UBND huyện Hòn Đất ban hành Quyết định số 5816 ngày 19/11/2020, xử phạt hành chính đối với T số tiền 30.000.000 đồng về hành vi tàng trữ hàng cấm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 191, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy T phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử Phạt: Bị cáo Lê Duy T 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên tịch thu tiêu hủy 2.500 bao thuốc lá điếu hiệu Hero, 500 bao thuốc lá điếu hiệu Jet;
Trả lại 01 xe ô tô hiệu FORD TRANSIST, loại 16 chỗ ngồi, số máy RATTORQ4D244L; số khung T4MFHAR61979; biển số 68B-015.30 cho chủ sở hữu là bà Võ Kiều Đ (bà Đ đang tạm giữ).
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Duy T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi Nhận: - TAND Tỉnh KG; - VKS H.Hòn Đất; - Chi cục THADS H.Hòn Đất; - Công an H.Hòn Đất; - Sở Tư Pháp; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Quốc Chiến |