- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2021/HNGĐ-ST Ngày: 13/01/2021 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nông Viết Lâm.
2. Ông Nguyễn Thành Nhật.
Thƣ ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/TLST-HNGĐ ngày 24/11/2020 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Mi – Sinh năm 1997.
Địa chỉ: Xóm KN, xã LM, huyện V, Thái Nguyên.
Dân tộc: Dao; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân. (Có mặt)
*Bị đơn: Anh Hoàng Văn N1 – Sinh năm 1996.
Địa chỉ: Xóm No1, xã TX, V, Thái Nguyên.
Dân tộc: Nùng; Văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng. (Có mặt)
* Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đào
Anh TA – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
*Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Ngọc
KH – Luật sư Văn phòng Luật sư H54 do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên cử. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa
nguyên đơn là chị Hoàng Thị Mi trình bày:
Chị khởi kiện anh Hoàng Văn N1 - Địa chỉ: Xóm No1, xã TX, huyện V,
Thái Nguyên khởi kiện lý do xin ly hôn.
Chị và anh N1 lấy nhau và đăng ký kết hôn với nhau năm 2016 tại UBND
xã LM, huyện V, Thái Nguyên.
Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Việt F1 -
Sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018.
Về tài sản chung: Chị và anh N1 không có tài sản chung.
Về nợ chung: Chị và anh N1 không vay ai và cho ai vay.
Về nguyên nhân xin ly hôn: Do hai vợ chồng không hợp nhau, luôn bất
đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm được, xét tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh N1, vợ chồng đã ly thân được 02 tháng nay.
Nay chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh N1.
Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi 02 cháu, nếu không được
nuôi cả 02 con thì chị xin nuôi 01 cháu cụ thể là cháu Hoàng Việt A – Sinh ngày 27/8/2018.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết vì anh chị không có tài
sản chung.
* Bị đơn anh Hoàng Văn N1 trình bày: Anh bị chị Hoàng Thị Mi - Địa
chỉ: Xóm KN, xã LM, huyện V, Thái Nguyên khởi kiện lý do xin ly hôn.
Anh và chị Hoàng Thị Mi lấy nhau và đăng ký kết hôn với nhau năm 2016
tại UBND xã LM, huyện V, Thái Nguyên.
Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Việt F1 -
Sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung.
Về nợ chung: Anh và chị Mi không vay ai và cho ai vay.
Về nguyên nhân chị Mi xin ly hôn anh không hiểu nguyên nhân tại sao, khi
nhận được Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án anh mới biết. Anh thừa nhận có mắng chửi chị Mi, hai vợ chồng sống ly thân được 02 tháng nay.
Nay chị Mi yêu cầu ly hôn anh không đồng ý.
Nếu Tòa án buộc anh chị ly hôn: Về con chung anh có nguyện vọng được
nuôi cháu Hoàng Việt F1 – Sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018. Nếu được nuôi con anh không yêu cầu chị Mi cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết vì anh chị không có tài sản chung.
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Đào Anh
Tuấn trình bày: Chị Mi và anh N1 lấy nhau và đăng ký kết hôn với nhau năm 2016 tại UBND xã LM, huyện Võ Nhai, Thái Nguyên. Anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Việt F1 - Sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018. Quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân được 02 tháng nay. Xét cuộc hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Do đó người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Mi được ly hôn anh N1; Về con chung: Vì cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018 còn nhỏ nên giao cho chị Mi trực tiếp nuôi dưỡng, còn cháu Hoàng Việt F1 – Sinh ngày 30/01/2016 giao cho anh N1 nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu và xem xét giải quyết.
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Phạm Ngọc Khuê
trình bày: Vụ án ly hôn này có các con chung còn nhỏ, vợ chồng có mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mi; Về con chung: Phía nguyên đơn có thu nhập ổn định, nhưng chỉ đảm bảo nuôi 01 cháu, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các cháu nên giao cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018 cho chị Mi trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Hoàng Việt F1 – Sinh ngày 30/01/2016 cho anh N1 trực tiếp nuôi dưỡng, các bên có quyền thăm nom con chung mà không bị cản trở để các cháu đủ điều kiện phát triển tốt nhất. Tài sản chung và nợ chung không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của pháp luật; đối với các đương sự đã chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của mình trong vụ án dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, cụ thể:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Mi, yêu cầu Tòa án giải
quyết ly hôn đối với anh Hoàng Văn N1.
- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Hoàng Thị Mi được ly hôn với anh Hoàng
Văn N1.
- Về con chung: Giao cháu Hoàng Việt F1 - Sinh ngày 30/01/2016 cho anh
Hoàng Văn N1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Giao cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018 cho chị Hoàng Thị Mi trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Hoàng Văn N1 và chị Hoàng Thị Mi vì
hai bên không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết vì đương sự không
yêu cầu.
- Về án phí: Chị Mi phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc
Ly hôn giữa chị Hoàng Thị Mi và anh Hoàng Văn N1.
Về tư cách chủ thể: Chị Hoàng Thị Mi khởi kiện xin ly hôn anh Hoàng
Văn N1 nên chị Hoàng Thị Mi là nguyên đơn, anh Hoàng Văn N1 là bị đơn trong vụ án.
Về yêu cầu xin ly hôn của chị Mi: Cuộc hôn nhân giữa chị Mi và anh N1
là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Bởi lẽ, anh N1 và chị Mi lấy nhau có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã LM, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Về nguyên nhân ly hôn: Theo chị Mi do hai vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm được, xét tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh N1. Anh N1 thì không biết nguyên nhân gì, nhưng anh xác định có mắng chửi chị Mi và vợ chồng đã ly thân được hơn 02 tháng nay.
Căn cứ kết quả xác minh của TAND huyện Võ Nhai tại địa phương xác
định thời gian gần đây không thấy chị Mi về nhà chồng và cùng chung sống với anh N1 nữa. Tòa án được gia đình chị Mi cung cấp thông tin xác định chị Mi và anh N1 đã mâu thuẫn được hai năm, anh N1 nhiều lần xô sát chị Mi, sau mỗi lần như vậy, chị Mi lại về bên ngoại ở một thời gian, hai bên gia đình đã cho anh N1 thời gian sửa chữa, xong anh N1 không sửa chữa là khổ chị Mi, thời gian gần đây chị Mi đã về ở hẳn với gia đình tại xóm KN, xã LM, huyện Võ Nhai. Xét cuộc hôn nhân giữa chị Mi và anh N1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Mi.
Về con chung: Anh N1 và chị Mi có 02 con chung là cháu Hoàng Việt
F1 - Sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018.
Cả hai bên đương sự đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi con. Xét điều kiện
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục của các bên đương sự, xét cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018 còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho cháu A nên giao cháu A cho chị Hoàng Thị Mi trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục và giao cháu Hoàng Việt F1 - Sinh ngày 30/01/2016 cho anh Hoàng Văn N1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Hoàng Văn
N1 và chị Hoàng Thị Mi vì hai bên không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải
quyết vì đương sự không kê khai và không yêu cầu.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Hoàng Thị Mi phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định.
Xét ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tại phiên tòa là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28; 35; 39; 147 và 235 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Hoàng Thị Mi được ly hôn anh Hoàng
Văn N1.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Việt F1 - Sinh ngày 30/01/2016 cho
anh Hoàng Văn N1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Giao cháu Hoàng Việt A - Sinh ngày 27/8/2018 cho chị Hoàng Thị Mi trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho anh Hoàng Văn N1 và chị Hoàng Thị Mi vì
hai bên không yêu cầu.
Anh N1 và chị Mi có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai
được cản trở. Anh N1 cũng như các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Mi thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu F1. Chị Mi cũng như các thành viên trong gia đình không được cản trở anh N1 thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị Mi phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Mi đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0007791 ngày 24 tháng 11 năm 2020.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt các đương sự. Báo cho biết có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Võ Nhai; - UBND xã LM; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Kim Tuấn |