vanban.org

Bản án 02/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Như Ngọc được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh Huy. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ngọc - huy"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 20/01/2021
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM – TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vi

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Vũ Đình Hữu

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hùng – Kiểm sát viên

Ngày 20/01/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 239/2020/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2020 về “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 04/01/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Như Ngọc – Sinh năm: 1989; Địa chỉ: Thôn Xuân Lập, xã Cam Tân, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh Huy – Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn Xuân Lập, xã Cam Tân, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hoà. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Như Ngọc trình bày:

Về yêu cầu ly hôn: Bà Ngọc và ông Huy tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Cam Tân, huyện Cam Lâm cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2011, quyển số 01/2011, ngày 08/4/2011. Từ khi cưới nhau về vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2013. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu, ông Huy không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, ham chơi dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau. Vì thương con nên bà Ngọc đã cố gắng chịu đựng nhiều năm. Từ năm 2018, bà Ngọc và ông Huy sống ly thân với nhau. Bà Ngọc dẫn con về nhà mẹ ruột ở Diên Khánh sinh sống, thỉnh thoảng ông Huy có ra thăm con. Nay, bà Ngọc nhận thấy không còn tình cảm gì với ông Huy nên bà Ngọc yêu cầu được ly hôn với ông Huy.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Ngọc và ông Huy có 01 con chung là Nguyễn Mạnh Việt Quân - sinh ngày: 14/11/2012. Khi ly hôn bà Ngọc yêu cầu được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà Ngọc không yêu cầu ông Huy cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản khi ly hôn: Bà Ngọc không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 27/10/2020 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Mạnh Huy trình bày:

Về yêu cầu ly hôn: Ông Huy thống nhất với lời trình bày của bà Ngọc về thời điểm kết hôn. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng là mâu thuẫn nhỏ, việc mâu thuẫn như bà Ngọc trình bày là không đúng. Năm 2018, bà Ngọc có dẫn con về nhà ngoại ở Diên Khánh sinh sống, ông Huy có về nhà ngoại phụ vợ xây nhà. Về phía ông Huy, ông Huy vẫn đi làm, vẫn đưa tiền cho bà Ngọc chăm lo cho con. Việc mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu là có nhưng không lớn, ông Huy cho rằng ông vẫn còn thương vợ và không muốn con bị tổn thương nên việc bà Ngọc yêu cầu ly hôn với ông, ông không đồng ý.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Ông Huy và bà Ngọc có 01 con chung là Nguyễn Mạnh Việt Quân - sinh ngày: 14/11/2012. Khi ly hôn ông Huy yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Ngọc cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản khi ly hôn: Ông Huy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phạm Thị Như Ngọc được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh Huy; về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Mạnh Việt Quân – sinh ngày 14/11/2012 cho bà Ngọc trực tiếp nuôi dưỡng, bà Ngọc không yêu cầu ông Huy cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét; về án phí: bà Ngọc phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về ly hôn giữa bà Phạm Thị Như Ngọc và ông Nguyễn Mạnh Huy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu ly hôn: Bà Ngọc và ông Huy tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Cam Tân, huyện Cam Lâm cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2011, quyển số 01/2011, ngày 08/4/2011. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau, mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu. Ông Huy không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng đã tự hòa giải nhưng vẫn không hàn gắn được với nhau. Ông Huy cho rằng cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng là mâu thuẫn nhỏ, ông cũng thừa nhận từ năm 2018, bà Ngọc dẫn con về nhà mẹ đẻ sinh sống nhưng ông vẫn còn tình cảm với bà Ngọc, không muốn con bị tổn thương nên ông không đồng ý ly hôn nhưng ông Huy không đề ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm gia đình. Mặt khác, bà Ngọc và ông Huy sống ly thân với nhau từ năm 2018.

Xét tình trạng hôn nhân giữa bà Ngọc và ông Huy không thể hàn gắn được, bởi lẽ cả hai bên hiện nay đang sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; tại Tòa bà Ngọc không đồng ý hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Huy. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị Như Ngọc được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh Huy.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị Như Ngọc và ông Nguyễn Mạnh Huy có 01 con chung là Nguyễn Mạnh Việt Quân – sinh ngày 14/11/2012. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Ngọc yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Huy cấp dưỡng nuôi con.

Ông Huy yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Ngọc cấp dưỡng nuôi con.

Xét: Khi ly hôn, bà Ngọc và ông Huy đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung như nhau, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất và tinh thần. Hiện nay, cháu Quân đang sống với bà Ngọc tại Diên Khánh, cuộc sống đã ổn định. Bà Ngọc có công việc, thu nhập, có chỗ ở ổn định điều đó chứng tỏ bà Ngọc có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung phát triển một cách tốt nhất về thể chất và tinh thần. Đối với việc ông Huy có yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Quân, nhưng từ khi cháu Quân cùng bà Ngọc về Diên Khánh sinh sống vào năm 2018, thỉnh thoảng ông Huy mới ra thăm con. Ông Huy có đưa ra một số lý do để chứng minh cho việc ông có thể nuôi con tốt hơn bà Ngọc như bà Ngọc là công nhân, có khi làm cả chủ nhật, tăng ca đêm đến 22 giờ mới về, con thì giao cho bà ngoại đưa đón, môi trường sống nơi cháu Quân đang sinh sống…nhưng ông Huy cũng trình bày rằng ông cũng là công nhân, nếu ông đi làm thì con sẽ được bà nội và cô ruột chăm sóc. Điều đó cho thấy ông Huy cũng không có thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, tại bản tự khai ngày 12/10/2020, cháu Quân có nguyện vọng được sống với bà Ngọc. Từ những nhận định trên, HĐXX thấy rằng yêu cầu của bà Ngọc là có căn cứ hợp lý, phù hợp với thực tế, quy định của pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Quân nên cần chấp nhận.

Về chia tài sản chung khi ly hôn và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Ngọc và ông Huy không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về phần tài sản chung và nợ chung, nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Về án phí: Bà Phạm Thị Như Ngọc phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Như Ngọc được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh Huy.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:

Giao con chung là cháu Nguyễn Mạnh Việt Quân – sinh ngày 14/11/2012 cho bà Phạm Thị Như Ngọc trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.

Bà Phạm Thị Như Ngọc không yêu cầu ông Nguyễn Mạnh Huy cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về chia tài sản chung khi ly hôn và nợ chung: Không xem xét về phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, nếu sau này các đương sự trong vụ án có đơn yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

4. Về án phí: Bà Phạm Thị Như Ngọc phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0008364 ngày 24/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm. Bà Ngọc đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi Nhận:

Cỡ chữ