vanban.org

Bản án 02/2021/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 15/01/2021 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu H về yêu cầu hủy các quyết định hành chính: Hủy Quyết định số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh (dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ni… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 02/2021/HC-ST Tuyên án 15/01/2021
Phúc thẩm Bản án 18/2021/QĐ-PT Tuyên án 20/10/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trương Hữu H - UBND huyện N"
  • Tòa quyết gì? Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014;
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 3 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 100 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2021/HC-ST
Ngày 15/01/2021
V/v: “Khiếu kiện quyết định
hành chính về thu hồi đất;
bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng Kỳ và bà Lê Thị Chinh

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2020/TLST-HC ngày 34/2020/TLST-HC ngày 02 tháng 10 năm 2020 về việc “khiếu kiện quyết định hành chính đối với trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HC ngày 16/12/2020 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Trương Hữu H, sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: Khánh Chữ 2, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Lê Ngọc A – Phó Chủ tịch phụ trách Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận (theo giấy ủy quyền số 246/UQ-UBND ngày 11/11/2020), (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Đỗ Thanh L – Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Minh Ch, sinh năm 1955 (vắng mặt);

- Bà Trương Thị T, sinh năm: 1966

Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Như Q, sinh năm: 1987 (theo giấy ủy quyền ngày 27/11/2020), ( vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Hữu S - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản đối thoại, và tại phiên tòa người khởi kiện là ông Trương Hữu H trình bày:

Các thửa đất đang tranh chấp số 433, 434 tờ bản đồ địa chính số 06 xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn đã được Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn giải quyết sơ thẩm và Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đang giải quyết phúc thẩm. Trong quá trình đang giải quyết ở Tòa án phúc thẩm thì ngày 11/4/2019 Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành Quyết định số 770/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh trên toàn bộ diện tích thửa đất số 392 trong đó có luôn diện tích 31,6m2 nằm trong thửa 433 tờ bản đồ địa chính số 06 xã Mỹ Sơn đang tranh chấp để bồi thường cho ông Trần Minh Ch, ngoài ra còn bồi thường cho ông Ch số cây chuối mà ông đã trồng trên thửa đất.

Theo trích đo bổ sung bản đồ địa chính ngày 21/6/2018 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Ninh Sơn thửa đất số 433, 434 tờ bản đồ số 06 ở thôn Tân Mỹ, xã Mỹ Sơn thì thửa đất số 392 chưa thể hiện giáp ranh với thửa 433, 434 cùng tờ bản đồ mà thực chất thửa 392 sau khi Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ra Quyết định thu hồi số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 và Quyết định bồi thường số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 cho ông Trần Minh Ch là đất BCS (đất đồi núi chưa bố trí sử dụng) theo các bản đồ địa chính năm 2005, năm 2018. Việc ban hành quyết định thu hồi đất để bồi thường cho người khác trên phần đất ông đang sử dụng và tranh chấp đã vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Vì vậy ông khởi kiện Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Quyết định số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh ( dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn;

- Hủy Quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn về việc bồi thường hỗ trợ cho ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng thực hiện hạng mục đường dân sinh (dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn.

Tại văn bản trình bày số 2757/UBND – TH ngày 11/11/2020, phiên đối thoại và tại phiên tòa người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện N trình bày:

Căn cứ bản đồ đo đạc chỉnh lý thu hồi đất của dự án được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt, Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn đã ban hành Thông báo số 342/TB-UBND ngày 27/6/2018 về việc thu hồi đất của hộ ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục công trình đường dân sinh (thuộc dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), trên địa bàn xã Mỹ Sơn tại thửa đất số 392, tờ bản đồ số 26 diện tích thu hồi dự kiến 826m2. Sau đó Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn đã phối hợp với hộ dân có đất bị thu hồi thực hiện các bước tiếp theo trong công tác giải phóng mặt bằng thực hiện dự án. Trong đó có bản tự kê khai hiện trạng sử dụng đất của ông Trần Minh Ch, ngày 12/7/2018 Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Ninh Sơn phối hợp với các ban ngành, đơn vị liên quan tiến hành kiểm kê, đo đạc hiện trường trên diện tích thu hồi do ông Trần Minh Ch đang sử dụng (tài sản trên đất gồm 12 cây chuối thu hoạch). Ngày 27/9/2018, Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất đối với diện tích bị thu hồi do ông Trần Minh châu đang sử dụng, cụ thể: “Nguồn gốc đất do ông Trần Minh Ch nhận chuyển nhượng của ông Ngô Văn H năm 2007 bằng giấy viết tay, từ lúc nhận chuyển nhượng đến năm 2010, ông Ch trồng cây ngắn ngày, từ năm 2010 đến nay ông Ch trồng chuối”. Căn cứ biên bản kiểm kê hiện trạng và đo đạc hiện trường, bản xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và các quy định của pháp luật, ngày 11/4/2019 Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định 763/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án và kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho 12 hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây dựngđường dân sinh (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn (trong đó có hộ ông Trần Minh Ch); Quyết định số 770/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ ôngTrần Minh Châu để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn và ngày 18/4/2019, Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định 813/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án đường dân sinh (thuộc hệ thống thủy lợi Tân Mỹ) xã Mỹ Sơn với số tiền bồi thường, hỗ trợ 19.972.000đ và ông Trần Minh Ch đã nhận xong số tiền bồi thường này. Kể từ thời điểm ban hành thông báo thu hồi đất ngày 27/6/2018 đến thời điểm ban hành các quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt vào ngày 11/4/2019 và quyết định bồi thường, hỗ trợ vào ngày 18/4/2019, Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn và Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn không nhận được bất kỳ đơn kiến nghị nào của hộ ông Trương Hữu H tại phần đất thu hồi thực hiện dự án đường dân sinh, xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn.

Như vậy, việc Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn đã ban hành Quyết định số 770/QĐ- UBND ngày 11/4/2019 về việc thu hồi đất của hộ ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh (Dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn và Quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 về việc bồi thường hỗ trợ cho ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng thực hiện hạng mục đường dân sinh (Dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn là phù hợp với quy định pháp luật hiện hành. Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu H.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Đỗ Thanh L trình bày: ông đồng ý với lời trình bày của Ủy ban nhân dân huyện Ninh sơn tại Văn bản số 2757/UBND – TH ngày 11/11/2020 và đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu H.

Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh Ch, phiên đối thoại và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị T là bà Trần Như Q trình bày:

Ông Trần Minh Ch đã nhận đủ số tiền được Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn bồi thường khi thu hồi đất là 19.972.000đ, trong đó có 12 cây chuối do ông Hào trồng. Diện tích đang tranh chấp với ông Trương Hữu H có nguồn gốc ông Ngô Văn H khai hoang và sử dụng trước năm 2000, việc này được dân thôn Tân Mỹ biết và xác nhận. Năm 2007 gia đình bà mua lại mảnh đất trên để canh tác, việc mua bán có sự chứng kiến của ban quản lý thôn Tân Mỹ. Từ năm 2010 đến năm 2015 gia đình bà có cho ông Nguyễn Khắc M thuê để trồng mỳ, không hề có sự tranh chấp gì trong những năm này. Vì vậy, việc Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành quyết định thu hồi và quyết định bồi thường cho gia đình bà là đúng quy định pháp luật. Trong quyết định bồi thường của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn có bồi thường cho gia đình bà 12 cây chuối do ông Trương Hữu H trồng trên đất của gia đình bà.

Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn trình bày: Diện tích đất mà Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn thu hồi tại quyết định số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 có nguồn gốc do ông Trần Minh Ch mua của ông Ngô Văn H năm 2007 và ông Ch sử dụng trồng cây cho đến thời điểm bị thu hồi. Trên bản đồ địa chính chưa cập nhật chủ sử dụng đất, tuy nhiên ông Ngô Văn H đã sử dụng từ trước năm 2007. Ủy ban nhân dân huyện thu hồi, bồi thường trên cơ sở xác nhận nguồn gốc, hiện trạng sử dụng trên đất của Ủy ban nhân dân xã, còn đủ điều kiện bồi thường hay không thì do huyện thẩm định. Việc tranh chấp đất của ông H và ông Ch đối với thửa đất 433, 434 tờ bản đồ địa chính số 06 xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn xảy ra sau khi Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành quyết định thu hồi, bồi thường hổ trợ khi thu hồi đất.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng Hành chính từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án.

Về nội dung: Thời điểm Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành các quyết định hành chính số 770/QĐ- UBND ngày 11/4/2019 về việc thu hồi đất của hộ ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh và Quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 về việc bồi thường hỗ trợ cho ông Trần Minh Châu để giải phóng mặt bằng thực hiện hạng mục đường dân sinh thì thửa đất số 433, 434 tờ bản đồ địa chính số 06 xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn đang tranh chấp giữa ông Trương Hữu H và ông Trần Minh Ch thể hiện bằng các biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn vào tháng 01, 02/2018. Diện tích đất chưa xác định ai là người chủ sử dụng đất và trên đất có cây trồng do ông Hào trồng nhưng Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn lại ban hành quyết định thu hồi, bồi thường cho ông Trần Minh Ch là không đúng quy định pháp luật. Đồng thời, số tiền bồi thường theo quy định của pháp luật phải chuyển vào kho bạc nhà nước nhưng Ủy ban nhân dân huyện Ninh sơn đã chi trả cho ông Trần Minh Ch là không đúng quy định theo Luật đất đai, khoản 3 điều 30 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính Phủ.

Do đó, các yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 193 luật Tố tụng Hành chính chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu H, hủy các quyết định hành chính nêu trên của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

-Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng ông Trần Minh Ch và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị T vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 157 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

-Về quan hệ tranh chấp, đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Các quyết định số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 và quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Căn cứ vào đơn khởi kiện, đối chiếu với quy định pháp luật thì vụ án có quan hệ tranh chấp “Khiếu kiện quyết định hành chính đối với trường hợp thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất”; Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu H là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, 2 điều 3; khoản 1 điều 30; khoản 4 điều 32 của luật Tố tụng Hành chính.

- Về quyền khởi kiện: Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện từ năm 2017 ông H là người quản lý, sử dụng đất và trồng cây chuối, mãng cầu trên đất. Tuy không phải là người trực tiếp có tên trong 02 quyết định hành chính số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 và quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn nhưng lại bị ảnh hưởng trực tiếp, do đó ông Trương Hữu H cũng là người có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 2 điều 3, điều 115 Luật Tố tụng Hành chính.

- Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 11/4/2019 Uỷ ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành Quyết định số 770/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh (Dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn; ngày 18/4/2019 Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành Quyết định số 813/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng thực hiện hạng mục đường dân sinh (Dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn.

Theo các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa, ông Trương Hữu H khai: “nhận được thông tin từ bà Trương Thị T về các quyết định hành chính trên vào ngày 08/01/2020 khi Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận tiến hành xem xét, thẩm định đối với đất tranh chấp giữa ông và ông Trần Minh Ch trong vụ án dân sự trước đó, sau đó vào tháng 7/2020 khi ông xin sao chụp tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án dân sự đã nhận thấy các quyết định này”. Ông H không được Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn tống đạt quyết định và cho rằng các quyết định này ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông nên ngày 18/9/2020 ông nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính quy định về thời hiệu khởi kiện “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỹ luật buộc thôi việc”, ông H khởi kiện quyết định số 770/QĐ-UBND và quyết định số 813/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 116 luật Tố tụng Hành chính.

Xét yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, ý kiến của người bị kiện đối với quyết định hành chính bị kiện:

. Về hình thức, nội dung của quyết định hành chính: Quyết định số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019, quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn được ban hành dưới hình thức văn bản, chứa đựng nội dung thu hồi đất, hổ trợ bồi thường tài sản trên đất cho hộ ông Trần Minh Ch khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án, thỏa mãn quy định tại khoản 1, 2 điều 3 luật Tố tụng Hành chính.

.Về thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành: Ủy ban nhân dân là chủ thể có thẩm quyền ban hành quyết định, phía cuối quyết định Chủ tịch thay mặt Ủy ban nhân dân huyện Ninh sơn ký ban hành văn bản là đúng thẩm quyền theo quy định điểm a khoản 2 điều 66, điểm a khoản 3 điều 69 Luật đất đai năm 2013.

Ngày 27/6/2018, Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành Thông báo số 342/TB-UBND về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục: Công trình đường dân sinh (thuộc dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), địa bàn xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Ngày 11/4/2019, Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành Quyết định số 770/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh (dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn. Thu hồi 826m2 đất của hộ ông Trần Minh Ch, thuộc thửa đất số 392, tờ bản đồ địa chính số 6, tại xã Mỹ Sơn, huyện Ninh sơn.

Theo văn bản số 1566/UBND-TH ngày 07/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh sơn thì “Trong tổng diện tích 826m2 đất bị thu hồi có 31,6m2 thuộc một phần thửa đất số 392 và nằm trong thửa đất số 433 tờ bản đồ địa chính số 06 xã Mỹ Sơn”. Thửa đất 433 tờ bản đồ địa chính số 06 xã Mỹ Sơn hiện nay đang tranh chấp giữa vợ chồng ông Trần Minh Ch, bà Trương Thị T và ông Trương Hữu H. Khi tiến hành kiểm tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm xác định 12 cây chuối trồng trên đất là của ông Trần Minh Ch. Tuy nhiên, tại biên bản thẩm định, định giá của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn ngày 14/6/2018 và tại bản án sơ thẩm số 02/2019/DS-ST ngày 13/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn chưa có hiệu lực pháp luật đã xác định cây chuối trồng trên thửa đất do ông Trương Hữu H trồng. Đồng thời, ông Trần Minh Ch, bà T cũng thừa nhận toàn bộ cây trồng trên đất do ông Trương Hữu H trồng. Ông H là người đang quản lý, sử dụng và trồng cây trước thời điểm Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn ban hành thông báo thu hồi đất. Tại công văn số 330 ngày 09/11/2020 Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn cung cấp “hộ ông Trần Minh Ch không có sử dụng thửa đất nào liền kề thửa 433, 434 tờ bản đồ 06 xã Mỹ Sơn”, Ủy ban nhân dân huyện không xác định được diện tích thu hồi còn lại 794,4m2 thuộc thửa đất nào… việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm là không đầy đủ. Như vậy trình tự, thủ tục ban hành quyết định không đảm bảo đúng quy định tại điều 69 của Luật đất đai và điều 17 Nghị định 43/2014 /NĐ – CP.

Xét tính hợp pháp của quyết định hành chính số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019, quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn:

Các thửa đất số 433, 434 tờ bản đồ địa chính số 06 xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn ông Ch tranh chấp với ông H từ ngày 14/12/2017 (theo đơn), ông Ch xác định ông H chiếm đất từ tháng 01/2018, hai bên tranh chấp hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn từ tháng 01/2018 và đến tháng 3/2018 ông Ch khởi kiện dân sự ra Tòa án. Tại văn bản số 1566/UBND-TH ngày 07/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn xác định trong tổng diện tích 826m2 đất bị thu hồi có 31,6m2 thuộc một phần thửa đất số 392 và nằm trong thửa đất số 433 tờ bản đồ địa chính số 06 xã Mỹ Sơn. Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn cho rằng việc quy chủ người sử dụng đất cho ông Trần Minh Ch dựa trên sự xác nhận về nguồn gốc đất của hội đồng tư vấn đất đai Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn theo biên bản ngày 27/9/2018 “nguồn gốc đất ông Ch mua của ông H bằng giấy tay, trồng cây ngắn ngày, năm 2010 đến nay ông Châu trồng chuối”. Trong khi biên bản xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất được lập cùng ngày 27/9/2018 nhưng trước đó về thời gian của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn lại xác định tình trạng đất đang có tranh chấp. Giấy chuyển nhượng viết tay giữa ông Ngô Văn H và ông Trần Minh Ch không đảm bảo về hình thức của giao dịch dân sự đối với bất động sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005. Quyền sử dụng đất từ người chuyển nhượng cũng như người nhận chuyển nhượng chưa được nhà nước chứng nhận, các giao dịch chuyển nhượng đều không có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc công nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền của hội đồng tư vấn đất đai xã Mỹ Sơn. Đồng thời, theo sổ mục kê qua các thời kỳ và tờ bản đồ địa chính 2008 không thể hiện thửa đất này, toàn bộ diện tích được xác định là đất bằng chưa sử dụng do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn quản lý và ông Trần Minh Ch cũng không đăng ký kê khai quyền sử dụng đất các thửa đất này. Quá trình nhận chuyển nhượng cho đến khi Nhà nước thu hồi ông Ch không có một trong các loại giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất quy định tại điều 50 Luật đất đai năm 2003 ( điều 100 Luật đất đai 2013). Như vậy, theo quy định của pháp luật Dân sự cũng như pháp luật Đất đai thì chưa đủ căn cứ xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông Trần Minh Ch.

Tại quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn có nội dung: Bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 19.972.000đ, trong đó: bồi thường về đất 18.172.000đ, bồi thường cây trồng, hoa màu 1.800.000đ.

Căn cứ điều 75 Luật đất đai năm 2013 quy định về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng:

“ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này;…”

Đối chiếu với quy định trên thì cả ông Trần Minh Ch và ông Trương Hữu H đều chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn đã bồi thường xong tiền cho ông Trần Minh Ch đối với diện tích đất bị thu hồi và cây trồng trên đất, ông Ch đã nhận đủ số tiền 19.972.000đ trong đó có 12 cây chuối trị giá 1.800.000đ mà ông H trồng.

Căn cứ khoản 3 điều 30 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất:

“ Trường hợp diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chưa giải quyết xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất đang tranh chấp đó được chuyển vào Kho bạc Nhà nước chờ sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho người có quyền sử dụng đất”.

Như vậy, do tranh chấp đất đai dẫn đến việc không xác định được người sử dụng đất là ai nên việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trong trường hợp này sẽ đưa vào Kho bạc Nhà nước. Sau khi việc tranh chấp quyền sử dụng đất được giải quyết xong thì người sử dụng đất hợp pháp có thể nhận tiền bồi thường, hỗ trợ từ Kho bạc Nhà nước. Việc đền bù đất có tranh chấp sẽ được trả sau khi giải quyết xong tranh chấp; bản án sơ thẩm ngày 13/3/2019 chưa có hiệu lực pháp luật và tranh chấp đất giữa ông H và ông Ch chưa được giải quyết dứt điểm nên chưa phát sinh việc bồi thường nhưng Ủy ban huyện Ninh Sơn lại bồi thường toàn bộ số tiền trên cho ông Trần Minh Ch, trong đó có cả tài sản cây trồng trên đất của ông Trương Hữu H là chưa đúng quy định pháp luật Đất đai.

Do đó, quyết định số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 và quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn về việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được ban hành đúng thẩm quyền nhưng không đúng trình tự thủ tục và nội dung không có căn cứ phù hợp pháp luật.

Từ những nhận định trên, yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu H là có căn cứ. Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu H là phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1, 2 điều 3; khoản 1 điều 30; khoản 4 điều 32; điều 115; điều 116; điểm b khoản 2 điều 157; điều 164; điểm b khoản 2 điều 193; điều 194; điều 206; điều 213 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015;

Điều 66; điều 69; điều 75; điều 100 Luật Đất đai năm 2013;

Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014;

Khoản 2 điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Hữu H về yêu cầu hủy các quyết định hành chính:

Hủy Quyết định số 770/QĐ-UBND ngày 11/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn về việc thu hồi đất để giải phóng mặt bằng xây dựng hạng mục đường dân sinh (dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn;

Hủy Quyết định số 813/QĐ-UBND ngày 18/4/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn về việc bồi thường hỗ trợ cho ông Trần Minh Ch để giải phóng mặt bằng thực hiện hạng mục đường dân sinh (dự án hệ thống thủy lợi Tân Mỹ), xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn.

2. Về án phí: Uỷ ban nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm;

Ông Trương Hữu H không phải chịu án phí sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018987 ngày 01/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 15/01/2021); đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Hồng Kỳ

Lê Thị Chinh

Phạm Thị Anh Trang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Ninh Thuận;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Cục THADS tỉnh Ninh Thuận;

- Các đương sự;

- Phòng kiểm tra nghiệp vụ – THA;

- Tổ Hành chính – Tư pháp;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Phạm Thị Anh Trang

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Lập

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Liên

Lê Thị Chinh

Võ Văn Lập

Cỡ chữ