- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị Đ và Phạm Thanh Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Đ
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2021/DSST-HNGĐ Ngày: 13/5/2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp cấp dưỡng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Kim Sơn; Ông Tẩn A Sếnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Trung Sơn. Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Gia Binh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 24/2020/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp cấp dưỡng" giữa:
Nguyên đơn: Chị Lý Thị Đ, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Bản V, xã L, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Có mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Thanh Q, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Bản V, xã L, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Vắng mặt lần 02 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2020, bản tự khai ngày 22/10/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lý Thị Đ trình bày: Chị và anh Phạm Thanh Q đăng ký kết hôn từ tháng 28/11/2008 tại UBND phường thống nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống với nhau giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, đến tháng 01/2020 chị Đ nghi ngờ anh Q chơi bời, đến tháng 7/2020 hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do anh Q chơi bời, không tu chịu làm ăn, vợ chồng cãi vã không được hạnh phúc, nay chị không thể tiếp tục chung sống với anh Q nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Lý Thị Đ và anh Phạm Thanh Q có 03 con, con lớn tên Phạm Lý Hải Y, sinh ngày 07/9/2009; con thứ hai tên Phạm Lý Trà M, sinh ngày 26/10/2012; con thứ 3 tên Phạm Lý Gia H, sinh ngày 17/5/2018. Chị có nguyện vọng để các con cho anh Q nuôi dưỡng, vì anh Q đã đưa các con về sinh sống và học tập tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai cùng bà nội. Chị Đ không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận, chị Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai của anh Phạm Thanh Q, ngày 22/10/2020: Về quá trình kết hôn anh Q nhất trí với lời khai của chị Lý Thị Đ. Về tình cảm anh Q không biết chị Đ xin ly hôn và anh rất bất ngờ, nên anh Q không đồng ý ly hôn, vì anh Q rất thương yêu vợ con, anh Q đề nghị Tòa án hòa giải để hai bên đoàn tụ gia đình để cùng nhau nuôi dậy con chung.
Về con chung: Anh Phạm Thanh Q và chị Lý Thị Đ có 03 con, con lớn tên Phạm Lý Hải Y, sinh ngày 07/9/2009; con thứ hai tên Phạm Lý Trà M, sinh ngày 26/10/2012; con thứ 3 tên Phạm Lý Gia H, sinh ngày 17/5/2018. Nếu phải ly hôn anh Q có nguyện vọng nuôi cả ba con và không đề nghị anh chị Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận và không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành hòa giải. Tại bên bản hòa giải (lần 01) ngày 02/12/2020 chị Lý Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Thanh Q, về con chung chị thống nhất để cả 03 con cho anh Q nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung, chị Đ không yêu cầu giải quyết. Bị đơn anh Phạm Thanh Q không nhất trí ly hôn, về con chung anh Q nhận nuôi cả 03 con và không yêu cầu chị Lý Thị Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung nếu phải ly hôn. Tài sản chung, nợ chung anh Q không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại biên bản hòa giải (lần 02) ngày 21/01/2021 chị Lý Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Thanh Q, về con chung chị nhất trí để cả 03 con cho anh Q nuôi dưỡng, về tài sản chung, nợ chung chị Đ không yêu cầu tòa án giải quyết. Bị đơn anh Phạm Thanh Q nhất trí ly hôn và nhận nuôi cả 03 con chung và yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Q 5.000.000 đồng/tháng cho cả 03 con đến khi các cháu đủ 18 tuổi, về tài sản chung anh Q không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tòa án đã triệu tập bị đơn hợp lệ, nhưng tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không có lý do. Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ phát biểu ý kiến như sau:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình: Ngày 28/11/2008, chị Lý Thị Đ và anh Phạm Thanh Q đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:“Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”. Tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh Q thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đang có hiệu lực pháp luật, do vậy áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 85, 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Đ, cho chị Lý Thị Đ được ly hôn với anh Phạm Thanh Q.
- Về nuôi con và cấp dưỡng: Áp dụng Điều 53, 54, 56, 92, 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, giao các cháu Phạm Lý Hải Y, sinh này 07/9/2009; cháu Phạm Lý Trà M, sinh ngày 26/10/2012 và cháu Phạm Lý Gia H, sinh ngày 17/5/2018 cho anh Phạm Thanh Q chăm sóc và giáo dục, chị Lý Thị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Lý Thị Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh Phạm Thanh Q mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng. Tổng mức cấp dưỡng hằng tháng là 3.000.000 đồng/tháng cho cả 03 cháu cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Việc xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền xét xử và xác định tư cách đương sự là hoàn toàn đúng theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 68 Bộ luật tố tụng Dân sự.
. Về nội dung vụ án: Quá trình giải quyết đối với vụ án đã xác định được như sau:
Chị Lý Thị Đ và anh Phạm Thanh Q, đăng ký kết hôn ngày 28/11/2008 tại Ủy ban nhân dân phường phường Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Q không tu chí làm ăn, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Đ xin được ly hôn với anh Phạm Thanh Q, anh Phạm Thanh Q nhất trí (các bên đã thỏa thuận được tại phiên hòa giải lần 02, ngày 21/01/2021).
Về con chung: Chị Lý Thị Đ và anh Phạm Thanh Q đã tự thỏa thuận , giao 03 cháu Phạm Lý Hải Y, sinh ngày 07/9/2009; Phạm Lý Trà M, sinh ngày 26/10/2012; Phạm Lý Gia H, sinh ngày 17/5/2018 cho anh Phạm Thanh Q nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Lý Thị Đ được quyền đi lại thăm nom và không ai được quyền cản trở (các bên đã thỏa thuận được tại phiên hòa giải lần 02, ngày 21/01/2021).
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con 5.000.000/tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị Lý Thị Đ không nhất trí với mức yêu cầu cấp dưỡng của anh Phạm Thanh Q.
Về tài sản chung, nợ chung: Cả hai không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Đ và anh Q.
Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và các vấn đề liên quan ngày 25/02/2021 tại nhà ông Lý A T- Trưởng bản V, xã L, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Ông T cho biết nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị Đ và anh Q là do anh Q chơi bời, không tu chí làm ăn, hiện nay anh chị không còn chung sống với nhau vì đã ly thân, anh Q không có nghề nghiệp ổn định là lao động tự do. Về tài sản là 01 ngôi nhà tại bản V, xã L hiện đang để không, bên trong không còn tài sản gì, do anh Q đã bán hết, anh Q đã đưa 03 con về Lào Cai sinh sống với mẹ đẻ.
Tại biên bản xác minh ngày 19/3/2021 tại Trung tâm y tế huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu: Ông Đinh Mạnh K- Phó trưởng phòng tổ chức hành chính cho biết: Chị Lý Thị Đ hiện là viên chức Trạm y tế xã L, huyện Sìn Hồ, đã học xong trình độ bác sỹ nhưng chưa chuyển ngạch, đang được định hướng chuyên môn về da liễu với thời gian 06 tháng, trong thời gian đi học chị Đ chỉ được hưởng mức lương cơ bản do Nhà nước quy định, còn hàng tháng mức lương của chị Đ là 8.109.623 đồng.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lý Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Phạm Thanh Q, anh Phạm Thanh Q vắng mặt tại phiên tòa. Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và việc giải quyết ly hôn để chị Đ ổn định cuộc sống, ổn định công việc là cần thiết vì tình cảm của chị Đ cũng không còn dành cho anh Q, hai bên cũng có sự mâu thuẫn và đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau, chị Đ đã về nhà bố mẹ đẻ để ở, còn anh Q cũng về ở với mẹ đẻ tại thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Việc chị nhất trí để cả 03 con cho anh Phạm Thanh Q nuôi dưỡng là phù hợp vì các cháu cũng muốn ở với anh Q, hiện các cháu vẫn đi học đều và phát triển tốt nên việc giao 03 cháu Phạm Lý Hải Y, sinh ngày 07/9/2009, Phạm Lý Trà M, sinh ngày 26/10/2012, Phạm Lý Gia H, sinh ngày 17/5/2018 cho anh Q chăm sóc là phù hợp và có căn cứ quy định của pháp luật (tại biên bản lấy lời khai và các phiên hòa giải anh Q đều nhận nuôi cả 03 con).
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên hòa giải lần 02 anh Phạm Thanh Q yêu cầu chị Lý Thị Đ phải cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000/tháng cho cả 03 con, chị Lý Thị Đ không nhất trí. Tuy nhiên qua xác minh chị Lý Thị Đ hiện là viên chức Trạm y tế xã L, huyện Sìn Hồ với mức lương 8.109.623 đồng/tháng, thì không thể cấp dưỡng mức nuôi con 5.000.000 đồng/tháng cho cả 03 con được vì chị Đ còn phải đi học và phải nuôi sống bản thân, tại phiên tòa chị Lý Thị Đ chỉ nhất trí với mức cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng cho cả 03 cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Tại biên bản xác minh công việc của anh Phạm Thanh Q ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Công việc của anh Phạm Thanh Q là buôn bán hàng Trung Quốc với mức thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng. Nên chị Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho mỗi cháu 1.000.000/tháng, tổng số tiền phải cấp dưỡng hằng tháng là 3.000.000 đồng/tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp.
Về tài sản chung, nợ chung: Cả hai bên không đề nghị nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Lý Thị Đ phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 68, điểm b khoản 2 Điều 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 53, 54, 56, 85, 89, 91, 92 và 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Đ
Về quan hệ hôn nhân: Chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Thị Đ và anh Phạm Thanh Q theo giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 28/11/2008 do Ủy ban nhân dân phường Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai cấp. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Thị Đ và anh Phạm Thanh Q chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Giao các cháu Phạm Lý Hải Y, sinh này 07/9/2009; cháu Phạm Lý Trà M, sinh ngày 26/10/2012 và cháu Phạm Lý Gia H, sinh ngày 17/5/2018 cho anh Phạm Thanh Q chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác. Chị Lý Thị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lý Thị Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh Phạm Thanh Q mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng. Tổng mức cấp dưỡng hằng tháng là 3.000.000 đồng/tháng cho cả 3 cháu. Thời gian, phương thức cấp dưỡng: Cấp dưỡng hằng tháng vào khoảng từ ngày 15 đến ngày 20 dương lịch hằng tháng, tính từ ngày 01/6/2021 cho đến khi các cháu Phạm Lý Hải Y, sinh này 07/9/2009, cháu Phạm Lý Trà M, sinh ngày 26/10/2012 và cháu Phạm Lý Gia H, sinh ngày 17/5/2018 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác.
Trên cơ sở lợi ích con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Cả hai không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chị Lý Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lý Thị Đ đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2010/0001997 ngày 22/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Chị Lý Thị Đ phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THA Dân sự huyện; - UBND phường Thống Nhất- TP Lào Cai; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Văn Bình |