vanban.org

Bản án 02/2020/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực MN. Buộc Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC có trách nhiệm trả cho Tổng Công ty Điện lực MN số tiền điện 8.578.000đồng (Tám triệu, năm trăm bảy mươi tám ngàn đồng) lãi 608.115đ (Sáu trăm lẻ tám ngàn, một trăm mười lăm đồng), cộng chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Kinh doanh thương mại"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/KDTM-ST
Ngày 07-5-2020
V/v tranh chấp kinh doanh thương mại
“Hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Mừng

.

2. Ông Nguyễn Văn Khanh

Thư ký phiên toà: Ông Hà Huy Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới không tham gia phiên tòa.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 26/2019/TLST-KDTM ngày 27 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2020/QĐST-KDTM ngày 20 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Tổng Công ty Điện lực MN- TNHH.

Địa chỉ: Số 72 HBT, phường BN, Q1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phƣớc Đ – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh N – Giám đốc Điện lực Chợ Mới, theo giấy ủy quyền số 6864/UQ-EVN SPC ngày 22/8/2019 (có mặt).

Địa chỉ: 24A THĐ, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC

Địa chỉ: 280B LLQ, phường B, quận TH, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phúc H – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu L – Nhân viên pháp chế, theo giấy ủy quyền số 08/UQ-TGĐ ngày 05/02/2020 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 280B LLQ, phường B, quận TH, Thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của Tổng Công ty Điện lực MN do ông Nguyễn Thanh N đại diện theo ủy quyền trình bày: Tổng Công ty Điện lực MN đã ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh L, Giám đốc điện lực CM ký hợp đồng mua bán điện với Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC, mục đích thu phát sóng viễn thông tại thị trấn Chợ Mới và thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới tỉnh An Giang, cụ thể như sau:

Ngày 12/10/2014 thỏa thuận ký hợp đồng số 14000443; ngày 14/10/2014 thỏa thuận ký hợp đồng số 14000444.

Trong quá trình sử dụng điện, Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC còn nợ tiền điện như sau:

Đối với hợp đồng số 14000443: Tiền điện kỳ 1 tháng 8/2019, nợ 2.144.5000đồng; tiền điện kỳ 1 tháng 9/2019 nợ 2.111.137đồng.

Đối với hợp đồng số 14000444: Tiền điện kỳ 1 tháng 7/2019 nợ 2.174.156đồng; tiền điện kỳ 1 tháng 8/2019 nợ 2.148.207đồng.

Tổng cộng Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC còn nợ Tổng Công ty Điện lực MN số tiền 8.578.000đồng.

Nay Tổng Công ty yêu cầu Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC trả số tiền điện còn nợ 8.578.000đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng.

Bị đơn Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC do ông Nguyễn Hữu L đại diện theo ủy quyền trình bày, thừa nhận Công ty còn nợ Tổng Công ty Điện lực MN số tiền điện 8.578.000đ. Do Công ty gặp khó khăn khách quan trong quá trình tái cấu trúc, nên không thanh toán được và đề nghị Tổng Công ty Điện lực MN lùi thời gian thanh toán. Ông Lộc có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh N đại diện theo ủy quyền yêu cầu Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC trả số tiền điện còn nợ 8.578.000đ; lãi 608.115đ, cộng chung 9.186.115đ

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Hợp đồng mua bán điện đã được các bên ký kết có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Xét, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Về quan hệ tranh chấp: Tổng Công ty Điện lực MN - TNHH khởi kiện Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng mua bán hàng hóa (điện) số 14000443 và 14000444, nên đây là tranh chấp xuất phát từ quan hệ “Hợp đồng mua bán hàng hóa”. Đồng thời, tranh chấp này phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên đây là vụ án kinh doanh thương mại theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ông Nguyễn Hữu L đại diện theo ủy quyền Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hữu L là có căn cứ

2. Về nội dung:

Hợp đồng mua bán điện được xác lập giữa Tổng Công ty Điện lực MN và Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật, đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Căn cứ theo hợp đồng, Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền điện cho đến nay. Theo quy định tại Điều 430, 440 Bộ luật dân sự, Điều 50 Luật thương mại, thì Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC phải có trách nhiệm trả tiền điện còn nợ và lãi phát sinh theo cam kết của hợp đồng (Bảng tính lãi đính kèm). Do đó, yêu cầu của Tổng Công ty Điện lực MN là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Hữu L là đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC xin lùi thời gian thanh toán là chưa đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn, xét không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên cách trả sẽ được xem xét ở giai đoạn thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Tổng Công ty Điện lực MN không phải chịu án phí, hoàn trả tạm ứng án phí cho Tổng Công ty.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự;

Điều 50 Luật Thương mại;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Tổng Công ty Điện lực MN.

Buộc Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC có trách nhiệm trả cho Tổng Công ty Điện lực MN số tiền điện 8.578.000đồng (Tám triệu, năm trăm bảy mươi tám ngàn đồng) lãi 608.115đ (Sáu trăm lẻ tám ngàn, một trăm mười lăm đồng), cộng chung 9.186.115đ (Chín triệu, một trăm tám mươi sáu ngàn một trăm mười lăm đồng).

Về án phí:

Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Tổng Công ty Điện lực MN không phải chịu án phí kinh doanh thương mại; hoàn trả cho Tổng Công ty 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm mà Tổng Công ty đã nộp theo biên lai thu số 0007767 ngày 26/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Tổng Công ty Điện lực MN được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Công ty Cổ phần Viễn thông Di động TC có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ