vanban.org

Bản án 02/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 20/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 40 (bốn mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22-10-2019. Trả lại cho bị cáo T 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7plus, màu đen, có lắp sim.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 02/2020/HSST
Ngày: 20-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hồng Hà và ông Nguyễn Quang Miên.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2020/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:

NGUYỄN BÁ T, sinh ngày 01/02/2001.

Nơi sinh: Xã Tân Trào, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 1, phường Hải Thành, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bá Th và bà Phạm Thị T1; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22-10-2019 đến ngày 25-10-2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương.

Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Trú tại: thôn Là Cau, xã Minh Ngọc, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

* Người có liên quan: Chị Chỏong Thị H1 (Ng), sinh ngày 02/3/2004.(vắng mặt)

Trú tại: Thôn Hợp Thành, xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

* Người làm chứng:

1. Anh Lưu Xuân T1, sinh năm 1989. (vắng mặt)

Trú tại: Thôn Trụ, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

2. Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1974. (vắng mặt)

Trú tại: Thôn Nghĩa, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

* Người chứng kiến: Chị Vi Thị K, sinh năm 2000. (vắng mặt)

Trú tại: Thôn Tân Thanh, xã Quảng Tân, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/10/2019, tại khu vực trước cửa quán Karaoke Vip2 thuộc thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cẩm Giàng đã bắt quả tang, thu giữ của Nguyễn Bá T và Choỏng Thị H1 01 túi nilon màu trắng, kích thước (04x05)cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 túi nilon bên trong có chứa 04 viên nén màu trắng đục, hình trụ tròn, đường kính 08mm, cao 04mm tại vị trí dưới đất, cạnh chỗ T và H1 đang đứng. T và H1 khai số ma tuý trên lúc trước T cầm trên tay, khi thấy lực lượng công an thì thả xuống đất. Số ma tuý này T cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác. Quá trình cơ quan công an bắt giữ T và H1 có sự chứng kiến của chị Vi Thị K.

Quá trình điều tra, Nguyễn Bá T và Choỏng Thị H1 (tức Ng) khai: T và H1 đều thường xuyên sử dụng ma tuý và có quen biết với Lưu Xuân T1. T1 thường bảo T chở H1 đi hát karaoke với khách tại nhiều quán trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Khoảng 22 giờ ngày 22/10/2019, T1 đến phòng trọ của H1 ở phường Tứ Minh, TP Hải Dương bảo H1 và K đi hát với khách quen của T1 ở quán karaoke. Trước khi đi, T1 đưa cho H1 01 túi ma tuý loại Ketamine và 04 viên nén màu trắng đục bảo H1 mang đến phòng hát bán cho khách. H1 đồng ý và cầm túi ma tuý cất vào túi quần đi ra chỗ K. K không biết việc trên. Sau đó, T1 gọi điện cho T bảo đến chở H1 và K đi hát với khách tại quán karaoke AE ở thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng. Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, Thắng điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius màu đen trắng (không có biển số) đến đón H1 và K. Trên đường đi, H1 hỏi T số ma tuý H1 đang cầm sẽ thu của khách bao nhiêu tiền. T bảo khoảng 4.700.000đ. Khi cả ba người đến quán AE, T1 gọi điện bảo T sang quán VIP2 ở cùng thôn Quý Dương và bảo T cầm túi ma tuý từ H1 bán cho khách thu 4.700.000đ. T đồng ý, trên đường di chuyển, T bảo H1 đưa túi ma tuý cho T để T giao cho khách. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi T, H1 và K vừa đi đến trước cửa quán karaoke VIP2 thì bị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cẩm Giàng kiểm tra. Do sợ hãi nên T đã vứt túi ma tuý xuống đất, cạnh chỗ T và H1 đang đứng. Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng.

Tại kết luận giám định số 366/KLGĐ-PC09 ngày 25-10-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 04 viên nén hình trụ tròn màu trắng đục niêm phong trong phong bì gửi đến giám định tổng khối lượng là 1,352gam là ma tuý, loại MDMA. Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,964gam là ma tuý, loại Ketamine.

Vật chứng của vụ án: 1,134gam MDMA và 0,854gam Ketamine được hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 366/KLGĐ-PC09; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7plus, màu đen, có lắp sim.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 19-12-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Nguyễn Bá T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận: Tối ngày 22-10-2019, bị cáo nhận được điện thoại của T1 bảo đến chở K và Ng (sau này bị cáo mới biết tên thật là H1) đến quán karaoke AE hát cùng người quen của Ng. T đồng ý. Trên đường đi, T thấy Ng hỏi: anh ơi, bốn viên, hai chỉ bao nhiêu tiền. T hiểu Ng hỏi giá tiền của 4 viên ma tuý kẹo và 2 chỉ ma tuý Ketamine. Do là người sử dụng loại này nên T bảo Ng là 4.700.000đ. Đến quán AE thì chưa thấy khách, một lúc sau, T1 gọi điện cho T bảo khách chuyển sang quán VIP2. T1 bảo T cầm số ma tuý từ Ng để T trực tiếp cầm giao cho khách ở quán VIP2 và lấy số tiền 4.700.000đ mang về cho T1. T chở Ng và K đi sang quán VIP2. Trên đường đi, Th bảo Ng: đồ đâu để tí anh đưa cho khách. Ng hiểu ý nên đưa số ma tuý trên cho T cầm. Khoảng 22 giờ, khi đến quán VIP2, thấy công an nên T sợ đã vứt túi ma tuý xuống đất cạnh chỗ T và Ng đang đứng. Việc T và Ng trao đổi với nhau, K không biết. T không có căn cứ gì chứng minh về việc T1 yêu cầu T làm như trên. Bị cáo bị truy tố, xét xử là đúng, không oan. Bị cáo không dụ dỗ, ép buộc H đi mua bán ma tuý cùng mà việc này do T điều khiển.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T từ 30-36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22-10-2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định. Trả lại bị cáo chiếc điện thoại có lắp sim nhưng cho bảo thủ để đảm bảo thi hành án. Chiếc xe mô tô đã được cơ quan CSĐT trả cho chủ sở hữu. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và Lệ phí của tòa án, Nghị quyết 326/QH14. Bị cáo phải án phí sơ thẩm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, người có liên quan, người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22-10-2019, tại trước cửa quán Karaoke VIP2, thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Bá T đang cất giấu trái phép 1,352gam ma túy, loại MDMA và 0,964gam ma tuý loại Ketamine mục đích bán cho người khác thì bị Cơ quan CSĐT công an huyện Cẩm Giàng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ việc cất giấu trái phép chất ma túy mục đích bán cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Việc mua bán, sử dụng ma túy còn là mầm mống làm phát sinh một số loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng nặng nề cho sức khỏe của con người và kinh tế của gia đình người sử dụng. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, nhân thân và tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Vật chứng: Đối với mẫu ma túy hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cho tịch thu, tiêu huỷ; Chiếc điện thoại bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng (không có biển số) có số máy 0C64740746, số khung RLC5C640CY74073 7 thu giữ của T. T khai mua xe của một người không quen biết ở khu vực bến xe quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng vào tháng 8 năm 2019 với số tiền 3.500.000đồng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên của anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991, trú tại thôn Là Cau, xã Minh Ngọc, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. Anh H bị mất xe ngày 25-02-2019 tại địa bàn thị trấn Lai cách, huyện Cẩm Giàng. Ngày 27-11-2019, Cơ quan CSĐT công an huyện Cẩm Giàng đã trả lại cho anh H chiếc xe mô tô trên và đang tiếp tục điều tra, làm rõ để giải quyết trong vụ án khác.

[8] Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo T đều khai nguồn gốc số ma tuý mà bị cáo cất giấu là do T1 đưa cho H1 (tức Ng) từ trước. T1 yêu cầu bị cáo đến chở H (tức Ng) và K đi đến quán Karaoke hát với khách. Sau đó, T1 yêu cầu T trực tiếp cấp ma tuý từ H1 để đến quán VIP2 đưa cho khách và thu số tiền là 4.700.000đ mang về cho T1. Trên đường đi, từ quán AE đến quán VIP2, T bảo H1 đưa ma tuý cho T cầm và bị bắt quả tang tại trước cửa quán VIP2. Ngoài lời khai của H1 và T, không có căn cứ nào khác để chứng minh anh T1 là người đưa số ma tuý trên cho H1 và yêu cầu T lấy ma tuý từ H1 giao cho khách rồi thu tiền về cho T1. Cơ quan điều tra đã cho T, H1 đối chất với anh T1, nhưng anh T1 không thừa nhận. Như vậy, chưa có đủ căn cứ xác định anh T1 là người đưa ma tuý cho H1 như T và H1 đã khai nên không có căn cứ xử lý đối với anh Lưu Xuân T1.

[9] Đối với Chỏong Thị H1 (Ng) có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cùng T. Tuy nhiên, tính đến ngày 22-10-2019, Chỏong Thị H1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (dưới 16 tuổi) nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cẩm Giàng đã ra thông báo và chuyển hồ sơ cho UBND xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử lý theo quy định. Ngày 04-11-2019, UBND xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Chỏong Thị H1.

[10] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 40 (bốn mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22-10-2019.

4. Căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 1,134gam MDMA và 0,854gam Ketamine được hoàn lại trong niêm phong số 366/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương;

Trả lại cho bị cáo T 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7plus, màu đen, có lắp sim.

(Đặc điểm của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng).

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Luật phí, lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016; Bị cáo Nguyễn Bá T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ