vanban.org

Bản án 02/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 05/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội dA: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như A (B) 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 14/11/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lừa đảo - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội dA: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 02/2020/HSST
Ngày 05-3-2020

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hoàng Nghiệp

Ông Lê Văn Phu

Thư ký phiên toà: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy– Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nguyễn Thiết Bảnh - Kiểm sát viên

Trong ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại Ủy ban nhân dân thị trấn An Phú, tỉnh An Giang, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2020/HSST ngày 15/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Như A (B), sinh năm: 1989, tại An Phú, An Giang, Nơi cư trú: Ấp An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê, trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hòa hảo; Quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Hòa Nam, sinh năm 1947 và bà Phạm Thị Ngọc Sương, sinh năm 1954; Nguyễn Thị Tuyền, sinh năm 1989 (đã ly hôn). Có 02 con: Lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014., nhân thân: chưa có phạm tội và bị xử phạt hành chính, Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị tạm giam từ ngày 14/11/2019.

- Người bị hại:

Dương Minh Hải, sinh năm 1978; (vắng)

Cư trú: Ấp An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, An Giang.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Huỳnh Thị Tùng, sinh năm 1949; (vắng)

Lê Văn Dờ, sinh năm 1981; (vắng)

Nguyễn Hữu Lâm, sinh năm 1972; (vắng)

Nguyễn Hòa Nam, sinh năm 1947. (vắng)

Cùng cư trú: Ấp An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, An Giang

Nguyễn ThA Hải, sinh năm 1975; (vắng)

Cư trú: Ấp Phước Mỹ, xã Phước Hưng, huyện An Phú, An Giang

La Đức Thạnh (Tý), sinh năm 1989; (vắng)

Cư trú: Ấp An Hưng, thị trấn An Phú, huyện An Phú, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền đánh bạc, nên ngày 12/01/2018 Nguyễn Như A vờ thỏa thuận mua xe môtô biển số 67FE-9347 của A Dương Minh Hải (ngụ ấp An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú) để chiếm đoạt. Nhưng A Hải không đồng ý mà chỉ cho Như A mượn để làm phương tiện đi lại.

Đến ngày 14/01/2018, Như A mang xe môtô biển số 67FE-9347 bán cho A Lê Văn Dờ (ngụ ấp An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú) tại khu vực gần nhà A Dờ được 2.200.000 đồng rồi mang sang Campuchia đánh bạc đến hết. Khi A Hải hỏi về xe môtô biển số 67FE-9347 thì Như A cho biết xe bị hư nên không thể điều khiển được.

Khoảng 09 giờ ngày 16/01/2018, Như A đến nhà A Hải chơi thì phát hiện xe môtô biển số 67L2-1913 nên vờ hỏi mượn xe để đi công việc để nhằm mục đích chiếm đoạt, được bà Huỳnh Thị Tùng (mẹ ruột A Hải) đồng ý. Sau đó Như A điều khiển xe sang Campuchia thế chấp được 8.000.000 đồng đánh bạc đến hết. Tiếp đó, Như A thỏa thuận bán lại xe môtô biển số 67L2-1913 cho A Nguyễn ThA Hải (ngụ ấp Phước Mỹ, xã Phước Hưng, huyện An Phú) với giá 10.000.000 đồng, được A Hải đồng ý nên Như A chuộc lại xe đã thế chấp giao cho A Hải rồi mang số tiền còn lại bỏ trốn.

Chiều ngày 16/01/2018, A Dương Minh Hải phát hiện việc Như A đã mang 02 xe môtô biển số 67FE-9347 và 67L2-1913 bán cho người khác nên đến Công an trình báo sự việc.

Đến ngày 14/11/2019 Nguyễn Như A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Phú bắt truy nã tại khu vực ấp 1, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 12/KL.TSĐGTTHS ngày 06/3/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Phú, tỉnh An Giang, xác định: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda (cúp) (đã qua sử dụng), màu xA bã đậu, số máy 670273, số khung C50V488886, biển số 67FE-9347. Giá trị là 3.150.000 đồng. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE (đã qua sử dụng), màu xA, số máy 0554299, số khung 554640, biển số 67L2-1913. Giá trị là 10.150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trên là: 13.300.000 đồng (mười ba triệu, ba trăm ngàn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-AP ngày 15/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Nguyễn Như A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng công bố.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174 BHLS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Như A với mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Người liên quan đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét, những người tham gia tố tụng (người liên quan) vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, những người có liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 02 xe môtô của A Dương Minh Hải tổng giá trị 13.300.000 đồng và lấy tiền sang Campuchia chơi đánh bạc.

Căn cứ pháp luật, hành vi của bị cáo Nguyễn Như A đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố bị cáo Nguyễn Như A về tội dA, điều luật (đã viện dẫn) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất vụ án: Bị cáo đứng trước phiên tòa hôm nay là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ nhận thức nhưng vì muốn có tiền để chơi đánh bạc, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 02 xe môtô của A Dương Minh Hải tổng giá trị tài sản là 13.300.000 đồng để đi đánh bạc, dẫn đến tài sản của bị hại bị chiếm đoạt trái phép. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, do đó cần có mức hình phạt thích hợp để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cho gia đình.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc trong lúc nghị án để đưa ra bản án nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.

Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có 2 con nhỏ, cha mẹ bị cáo đã khắc phục hậu quả xong cho bị hại. Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015

Từ những nhận định như trên và xem xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy Viện kiểm sát đề nghị mức án từ từ 09 đến 12 tháng tù là phù hợp đối với bị cáo. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

Về hình phạt bổ sung: Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, không cp1 dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về tội dA: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như A (B) 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 14/11/2019.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Như A (B) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Thời hạn kháng cáo của bị cáo, của đương sự có mặt hoặc đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/3/2020). Đối với đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ