vanban.org

Bản án 02/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 10/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng Hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 mũ bảo hiểm màu trắng có sọc xanh; 01 con dao dài 17cm màu đen, cán bằng gỗ đã qua sử d ng; 01 con dao d ng dao thái lan dài 26,5cm, cán bằng nhựa màu đen đã qua sử d ng; …

Về án phí áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban thường v Quốc hội: Bị cáo Bùi Đức Th được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo áp d ng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình sự: Bị cáo, người bảo vệ q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức Thịnh phạm tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng Hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 mũ bảo hiểm màu trắng có sọc xanh; 01 con dao dài 17cm màu đen, cán bằng gỗ đã qua sử d ng; 01 con dao d ng dao thái lan dài 26,5cm, cán bằng nhựa màu đen đã qua sử d ng; …
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------------------------------------------------
Bản án số: 02/2020/HS-ST
Ngày 10-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhã

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Doãn Văn Sáng; nghề nghiệp: Công chức Tư pháp

Bà Nguyễn Thị Vân; nghề nghiệp: Giáo viên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2020, t i tr s Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm kín v án hình sự sơ thẩm th lý số: 107/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 101/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2019/HSST-QĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Đức Th, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1982; Nơi sinh: Thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Q, sinh năm 1952 và con bà Trần Thị T, sinh năm 1952; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: - Bản án số 84 ngày 17/8/2004, Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng xử ph t 12 tháng tù về tội Trộm cắp T1 sản (Đã xóa án tích); - Bản án số 68 ngày 26/9/2008, Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội xử ph t 18 tháng tù về tội Trộm cắp T1 sản (Đã xóa án tích); Bị cáo bị bắt t m giam ngày 18/7/2019; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn T - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng thực hiện trợ giúp pháp lý; có mặt.

- Bị hại:

Cháu Trần Đức T, sinh ngày 21/8/2008 và cháu Trần M nh T, sinh ngày 31/7/2010; Người đ i diện hợp pháp c a bị h i (là mẹ, cha c a cháu Trần Đức T và cháu Trần M nh T): Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1986 và anh Trần Văn Q, sinh năm1984; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

Cháu Nguyễn Tất A, sinh ngày 26/3/2009; Người đ i diện hợp pháp c a bị h i (là mẹ, cha c a cháu Nguyễn Tất A): Chị Lê Thị L, sinh năm 1985 và anh Nguyễn Tất Tuấn, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

Cháu Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 07/10/2009; Người đ i diện hợp pháp c a bị h i (là mẹ, cha c a cháu Nguyễn Thành Đ): Chị Lê Thị Ng, sinh năm 1981 và anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (cháu Trần Đức T1 và cháu Trần M nh T2): Bà Đoàn Thị Huế - Trợ giúp viên pháp lý c a Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (cháu Nguyễn Tất A và cháu Nguyễn Thành Đ): Ông Bùi Văn Bình - Trợ giúp viên pháp lý c a Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Đại diện Trường tiểu học T nơi cháu Trần M nh T2, cháu Nguyễn Tất Anh và cháu Nguyễn Thành Đ đang học;Vắng mặt.

- Đại diện Trường trung học cơ sở T nơi cháu Trần Đức T1 đang học;Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T1 liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Bùi Đức Th là đối tượng nghiện ma túy và đang điều trị nghiện t i cơ s điều trị Methadone xã Th y Sơn, huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/6/2019, sau khi uống Methadone xong Bùi Đức Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nouvo LX màu đen - b c biển số 16N1-8305 về nhà. Khi đi qua khu vực miếu Th y Tú, thuộc thôn Đ, xã T, huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng thấy một số cháu nhỏ chơi khu vực gốc cây đa trong sân miếu, cổ các cháu có đeo dây chuyền bằng kim lo i b c, Bùi Đức Th đã nảy sinh ý định giật chiếm đo t dây chuyền c a các cháu bán lấy tiền mua ma túy. Bùi Đức Th dựng xe phía sau gốc cây đa rồi đi bộ đến chỗ các cháu chơi, lúc này Bùi Đức Th đeo khẩu trang nhưng kéo xuống dưới cằm và nói to: “Ai cho chúng mày leo lên cây. Không đứa nào được đốt lá cây”. Sau đó, Bùi Đức Th T2 l i vị trí cháu Trần Đức T1 đang đứng, tay phải cầm vào cổ áo cháu Trần Đức T1 tay trái giật m nh sợi dây chuyền bằng kim lo i b c có đặc điểm d ng mắt xích nối xen kẽ với mảnh kim lo i hình chữ nhật, trên bề mặt các mảnh hình chữ nhật đều có kí hiệu “Nike” đang đeo trên cổ cháu Trần Đức T1. Bùi Đức Th tiếp t c đi đến vị trí cháu Trần M nh T2 đứng c nh đó, dùng tay phải giật m nh sợi dây chuyền trên cổ cháu Trần M nh T2 (dây chuyền có đặc điểm giống c a Trần Đức T1). Bùi Đức Th cầm hai sợi dây chuyền trên tay đi đến chỗ cháu Nguyễn Tất A đứng gần đó tiếp t c giật sợi dây chuyền bằng kim lo i b c, có đặc điểm là các mắt xích nối với nhau, giữa có móc nối hình số 8 c a cháu Nguyễn Tất A. Sau khi giật lấy được 03 sợi dây chuyền, Bùi Đức Th để 03 sợi dây chuyền trong hộp số xe mô tô rồi điều khiển ra hướng cửa miếu. T i đây, Bùi Đức Th thấy cháu Nguyễn Thành Đ trên cổ có đeo dây chuyền b c có đặc điểm là các mắt xích hình elip nối với nhau đang đứng khu vực bờ hồ trong sân miếu, Bùi Đức Th điều khiển xe đến, ngồi trên xe dùng tay phải giật m nh sợi dây chuyền trên cổ cháu Nguyễn Thành Đ rồi điều khiển xe mô tô bỏ ch y ra hướng tỉnh lộ 359 qua cầu Bính sang nội thành Hải Phòng. Bùi Đức Th đến khu vực đường tàu gặp một người ph nữ không biết tên, địa chỉ đổi 04 sợi dây chuyền vừa chiếm đo t được được 03 gói heroine. Sau đó Bùi Đức Th đã mang số ma túy về nhà sử d ng hết. Đến 13 giờ ngày 18/6/2019, Bùi Đức Th điều khiển xe mô tô biển số 16N1-8305 đi uống Methadone về qua khu vực miếu Th y Tú thì bị cháu Trần Đức T1 phát hiện báo gia đình kết hợp cùng quần chúng nhân dân giữ Bùi Đức Th và giao cho Công an xã T xác minh, giải quyết.

T2 hành khám xét khẩn cấp nơi c a Bùi Đức Th thu giữ: 01 sợi dây bằng kim lo i màu trắng; 01 vòng làm bằng kim lo i màu vàng d ng vòng đeo tay; 01 sợi dây không rõ chất liệu màu vàng đồng d ng lắc đeo tay; 01 áo phông ngắn tay có cổ, màu xanh nh t.

Cháu Trần Đức T1, Trần M nh T2, Nguyễn Tất A, Nguyễn Thành Đ và đ i diện gia đình khai: Sợi dây chuyền c a cháu Trần Đức T1, Trần M nh T2 bị Bùi Đức Th giật chiếm đo t có đặc điểm giống nhau, đều bằng b c có mắt xích nối xen kẽ với mảnh kim lo i hình chữ nhật, trên bề mặt các mảnh hình chữ nhật đều có kí hiệu “Nike” trị giá 800.000 đồng. Sợi dây chuyền c a cháu Nguyễn Tất A là lo i dây bằng b c, có các mắt xích nối với nhau, giữa có móc nối hình số 8. Sợi dây chuyền c a cháu Nguyễn Thành Đ bị Bùi Đức Th giật chiếm đo t là lo i dây bằng b c, có các mắt xích hình elip nối với nhau trị giá 200.000 đồng.

T i Bản kết luận định giá T1 sản ngày 26/8/2019 c a Hội đồng định giá T1 sản trong tố t ng hình sự huyện Th y Nguyên kết luận: Giá trị T1 sản c a 02 sợi dây chuyền bằng kim lo i b c c a các cháu Trần Đức T1, Trần M nh T2 là 820.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng kim lo i b c c a cháu Nguyễn Tất A là 350.000 đồng; 01 sợi dây chuyền bằng kim lo i b c c a cháu Nguyễn Thành Đ là 150.000 đồng. Tổng giá trị T1 sản Bùi Đức Th đã chiếm đo t là 1.320.000 đồng.

Về dân sự: Trong giai đo n điều tra, gia đình Bùi Đức Th đã bồi thường 820.000 đồng cho cháu Trần Đức T1, Trần M nh T2; 350.000 đồng cho cháu Nguyễn Tất Anh; 150.000 đồng cho cháu Nguyễn Thành Đ. Các cháu Trần Đức T1, Trần M nh T2, Nguyễn Tất A, Nguyễn Thành Đ và đ i diện gia đình không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Vật chứng c a v án gồm: 01 mũ bảo hiểm màu trắng có sọc xanh; 01 con dao dài 17cm màu đen, cán bằng gỗ; 01 con dao d ng dao thái lan dài 26,5cm, cán bằng nhựa màu đen; 01 dây chuyền bằng kim lo i màu b c; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 khẩu trang y tế màu xám; 01 quần bò dài màu xanh; 01 đôi dép lê màu đen; 01 áo phông ngắn tay có cổ màu xanh nh t; 01 sợi dây bằng kim lo i màu trắng; 01 vòng làm bằng kim lo i màu vàng d ng vòng đeo tay; 01 sợi dây không rõ chất liệu màu vàng đồng d ng lắc đeo tay chuyển Chi c c Thi hành án dân sự huyện Th y Nguyên.

Đối với xe mô tô biển số 16N1-8305, quá trình điều tra xác định thuộc quyền s hữu c a ông Bùi Văn Q, sinh năm 1951, xã A, huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng (cha đẻ c a Bùi Đức Bùi Đức Th). Ông Bùi Văn Q cho Bùi Đức Th mượn để đi uống thuốc Methadone nhưng không biết Bùi Đức Th dùng để đi cướp giật T1 sản. Cơ quan điều tra đã trả l i ông Bùi Văn Quang sử d ng.

Cáo tr ng số 106/CT-VKSTN ngày 30 tháng 9 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Bùi Đức Th về tội Cướp giật T1 sản theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 c a Bộ luật Hình sự.

T i phiên tòa: Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo nhưng đề nghị giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo. Bị h i, người đ i diện hợp pháp c a bị h i vắng mặt t i phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ sơ v án đã trình bày đúng như nội dung v án đã được tóm tắt trên. Đ i diện Trường học nơi bị h i đang học tập vắng mặt t i phiên tòa và đề nghị Tòa án căn cứ quy định c a pháp luật giải quyết v án đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho bị h i. Người bào chữa cho bị cáo trình bày đồng ý với luận tội c a Kiểm sát viên về tội danh cũng như điều luật áp d ng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo. Về vật chứng thu giữ khi khám xét: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ pháp luật giải quyết. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c a bị h i trình bày về trách nhiệm hình sự đồng nhất với các quan điểm c a Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết v án theo quy định c a pháp luật, về trách nhiệm dân sự không đặt ra đối với bị cáo.

Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng t i phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp d ng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp d ng điểm d, g khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 c a Bộ luật Hình sự, xử ph t bị cáo Bùi Đức Th với mức án từ 7 năm tù đến 7 năm 6 tháng tù về tội Cướp giật T1 sản và không áp d ng hình ph t bổ sung đối với bị cáo. Về bồi thường thiệt h i không có yêu cầu nên không xem xét. Xử lý vật chứng áp d ng Điều 47 c a Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định c a pháp luật. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố t ng:

Các hành vi, quyết định tố t ng c a cơ quan T2 hành tố t ng, người T2 hành tố t ng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

- Về tội ph m mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:

Lời khai c a bị cáo t i phiên toà phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, phù hợp lời khai c a người làm chứng, lời khai c a bị h i và người đ i diện hợp pháp c a bị h i, kết luận định giá T1 sản, vật chứng thu giữ và các T1 liệu khác có trong hồ sơ v án. Vì vậy, đã có đ cơ s để kết luận như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/6/2019, bị cáo Bùi Đức Th có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 16N1-8305 đến khu vực miếu Th y Tú, thuộc thôn Đ, xã T, huyện Th y Nguyên, bị cáo dựng xe trong sân miếu đi bộ đến giật chiếm đo t c a các cháu Trần Đức T1 01 sợi dây chuyền b c trị giá 410.000.000 đồng, cháu Trần M nh T2 01 sợi dây chuyền b c trị giá 410.000.000 đồng, cháu Nguyễn Tất A 01 sợi dây chuyền b c trị giá 350.000 đồng. Khi điều khiển xe ra ngoài Th tiếp t c giật 01 sợi dây chuyền b c c a cháu Nguyễn Thành Đ trị giá 150.000.000 đồng. Thời điểm bị cáo chiếm đo t T1 sản các cháu Trần Đức T1, Trần M nh T2, Nguyễn Tất A, Nguyễn Thành Đ đều dưới 16 tuổi. Nên hành vi c a bị cáo đã ph m tội Cướp giật T1 sản theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình ph t là dùng th đo n nguy hiểm và ph m tội đối với người dưới 16 tuổi. Cáo tr ng số 106/CT-VKSTN ngày 30 tháng 9 năm 2019 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên truy tố bị cáo như đã nêu trên và lời luận tội c a Kiểm sát viên t i phiên tòa là đúng pháp luật.

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng c a hành vi ph m tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân c a bị cáo và hình ph t áp d ng:

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là ph m tội từ 02 lần tr lên được quy định t i điểm g khoản 1 Điều 52 c a Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi ph m tội tự nguyện bồi thường thiệt h i, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm b, s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân c a bị cáo: Bị cáo đã ph m tội nhiều lần và nghiện ma túy thể hiện là có nhân thân xấu.

Tính chất c a v án là rất nghiêm trọng, hành vi ph m tội c a bị cáo là rất nguy hiểm đã xâm ph m T1 sản, sức khỏe c a người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy thấy cần thiết phải áp d ng hình ph t tù đối với bị cáo. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi ph m tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân c a bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải áp d ng hình ph t tù trên mức kh i điểm c a khung hình ph t, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đ tác d ng giáo d c, cải t o riêng cho bị cáo và phòng ngừa tội ph m chung. Khoản 5 Điều 171 c a Bộ luật Hình sự quy định hình ph t bổ sung, do bị cáo không có việc làm, thu nhập và T1 sản nên không áp d ng hình ph t bổ sung với bị cáo. Như vậy mức hình ph t mà đ i diện Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp.

- Về những vấn đề khác:

Về dân sự: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng Hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 mũ bảo hiểm màu trắng có sọc xanh; 01 con dao dài 17cm màu đen, cán bằng gỗ đã qua sử d ng; 01 con dao d ng dao thái lan dài 26,5cm, cán bằng nhựa màu đen đã qua sử d ng; 01 mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử d ng; 01 mũ lưỡi trai màu đen đã qua sử d ng; 01 khẩu trang y tế màu xám đã qua sử d ng; 01 quần bò dài màu xanh đã qua sử d ng; 01 đôi dép lê màu đen đã qua sử d ng; 01 áo phông ngắn tay có cổ màu xanh nh t đã qua sử d ng là T1 sản c a bị cáo vì liên quan đến tội ph m và không còn giá trị sử d ng; trả l i cho bị cáo Bùi Đức Th 01 phong bì thư dán kín bên trong chứa 01 dây chuyền bằng kim lo i màu b c dài 45 cm, bề rộng 02cm, được thiết kế bằng các móc xích kim lo i nối với nhau xen kẽ là các bản bằng kim lo i thiết diện hình chữ nhật; 01 01 hộp giấy hình chữ nhật kích thước 15x 17 x3cm dán kín bên trong có 01 sợi dây bằng kim lo i dài khoảng 50cm, cấu t o bằng các khối hình chữ nhật, liên kết với các mắt xích; 01 vòng bằng kim lo i màu vàng, d ng vòng đeo tay, đường kính khoảng 04cm và 01 sợi dây không rõ chất liệu, rỗng, màu vàng, d ng lắc đeo tay là T1 sản c a bị cáo không liên quan đến v án.

Trong v án này: Đối với hành vi Bùi Đức Th đổi 04 sợi dây chuyền lấy 03 gói heroine cho một người ph nữ không biết tên, địa chỉ bên đường tàu Hải Phòng, Cơ quan điều tra tách ra xử lý làm rõ sau.

Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo và xin miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào d ng điểm d, g khoản 2 Điều 171, Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử ph t: Bùi Đức Th 6 (sáu) năm tù về tội Cướp giật T1 sản, thời h n chấp hành hình ph t tính từ ngày bị bắt t m giam ngày 18/7/2019.

Về xử lý vật chứng áp d ng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng Hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 mũ bảo hiểm màu trắng có sọc xanh; 01 con dao dài 17cm màu đen, cán bằng gỗ đã qua sử d ng; 01 con dao d ng dao thái lan dài 26,5cm, cán bằng nhựa màu đen đã qua sử d ng; 01 mũ bảo hiểm màu đen đã qua sử d ng; 01 mũ lưỡi trai màu đen đã qua sử d ng; 01 khẩu trang y tế màu xám đã qua sử d ng; 01 quần bò dài màu xanh đã qua sử d ng; 01 đôi dép lê màu đen đã qua sử d ng; 01 áo phông ngắn tay có cổ màu xanh nh t đã qua sử d ng; trả l i cho bị cáo Bùi Đức Th 01 phong bì thư dán kín bên trong chứa 01 dây chuyền bằng kim lo i màu b c dài 45 cm, bề rộng 02cm, được thiết kế bằng các móc xích kim lo i nối với nhau xen kẽ là các bản bằng kim lo i thiết diện hình chữ nhật; 01 hộp giấy hình chữ nhật kích thước 15x 17 x3cm dán kín bên trong có 01 sợi dây bằng kim lo i dài khoảng 50cm, cấu t o bằng các khối hình chữ nhật, liên kết với các mắt xích; 01 vòng bằng kim lo i màu vàng, d ng vòng đeo tay, đường kính khoảng 04cm và 01 sợi dây không rõ chất liệu, rỗng, màu vàng, d ng lắc tay đeo. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

Về án phí áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban thường v Quốc hội: Bị cáo Bùi Đức Th được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo áp d ng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố t ng hình sự: Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c a bị h i có mặt t i phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị h i, người đ i diện hợp pháp c a bị h i vắng mặt t i phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ