vanban.org

Bản án 02/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 07/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Bảo Tr 02(Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 05 (Năm) năm tù tại Bản án số 47/2018/HS- ST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Buộc bị cáo Nguyễn Bảo Tr phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bảo Tr (tên gọi khác là B), sinh năm 1991, tại thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HS-ST
Ngày: 07 tháng 02 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Ông Nguyễn Văn Trương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2019/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Bảo Tr (tên gọi khác là B), sinh năm 1991, tại thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;

Nơi cư trú: Không có nơi cư trú, sống lang thang;

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Trình độ văn hóa: Không biết chữ;

Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn Văn Chín B và mẹ: Nguyễn Thị Tuyết S; Vợ, con: Không;

Tiền án:

+ Lần 01: Bản án số 34/2011/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2011 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, khoản 1Điều 138 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Bảo Tr 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 4 năm 2011, chấp hành xong ngày 19 tháng 7 năm 2012.

+ Lần 02: Tại Bản án số 16/2013/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2013 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Tr 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 11 năm 2012, chấp hành xong ngày 11 tháng 8 năm 2015.

+ Lần 03: Tại Bản án số 06/2016/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Tr 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 12 năm 2015, chấp hành xong ngày 24 tháng 9 năm 2016.

+ Lần 04: Tại Bản án số 47/2018/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm h khoản 1 khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Tr 05 năm tù, bị cáo đang chấp hành tại trại giam Mỹ Phước.

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13 tháng 12 năm 2017.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Văn H, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố B, Phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Lương Văn Th, sinh năm 1946 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp LL, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt cụ thể như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 11 năm 2017, Nguyễn Bảo Tr đi bộ đến khu vực Công viên Ao Thiếc thì nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 63Y1-0477 của anh Nguyễn Văn H đang dựng trên bờ ruộng chìa khóa còn trên ổ khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp xe. Nguyễn Bảo Tr dẫn xe lùi lại và lên xe mở công tắc điều khiển xe chạy về hướng MT. Trên đường đi có ghé vào căn nhà hoang ở gần cầu KX thuộc xã LĐ, huyện CT để trốn và ngủ lại. Khi vào bên trong thì nhìn thấy 01 biển số xe 63V3-1189 để trên giường nên tháo biển số xe của anh H ra ném xuống sông gần đó và thế biển số vừa nhặt được gắn vào xe để tránh bị phát hiện. Nguyễn Bảo Tr sử dụng xe đến ngày 13 tháng 12 năm 2017 thì bị Công an tỉnh Tiền Giang kết hợp với Công an thị xã Gò Công bắt theo lệnh truy nã của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành về hành vi cố ý gây thương tích.

Tang vật thu giữ: Chiếc xe mô tô hiệu Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 63V3-1189 của anh Nguyễn Văn H, số khung C630AY319324, số máy 5C63-319379.

Theo kết luận định giá số 44/KL-HĐĐG ngày 02 tháng 01 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Gò Công thì xe trị giá 8.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công đã trao trả xe cho anh H xong.

Về trách nhiệm dân sự: Anh H và ông Th không yêu cầu gì.

Bị cáo Nguyễn Bảo Tr phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSTXGC ngày 03 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009;

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa và giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009. Đề nghị: Tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự;. Áp dụng Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 05 (Năm) năm tù tại Bản án số 47/2018/HS- ST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Buộc bị cáo Nguyễn Bảo Tr phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2017.

Về vật chứng và về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HSST ngày 11/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công đã có hiệu lực pháp luật, không bị hủy để xem xét lại nên không đặt ra để xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 .Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cua Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 .Về sự vắng mặt của anh H, ông Th: Cùng có yêu cầu vắng mặt nên căn cứ điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xử vắng mặt.

3 .Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo vì muốn có tiền để phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của anh H để chiếm đoạt các tài sản nêu trên trị giá 8.000.000 đồng. Lôøi khai nhaän toäi cuûa bò caùo phuø hôïp vôùi lôøi khai của anh H và phuø hôïp vôùi keát quaû khaùm nghieäm hieän tröôøng, phuø hôïp vôùi Kết luận giám định, Kết luận điều tra vaø Caùo traïng maø Vieän kieåm saùt nhaân daân thị xã Goø Coâng, tænh Tieàn Giang ñaõ truy toá.

Nhö vaäy, ñaõ coù ñuû cô sôû keát luaän bò caùo phaïm toäi “Trộm cắp tài sản” theo quy ñònh Ñieàu 138 Boä luaät hình söï năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009;

Về tiền án cụ thể:

+ Lần 01: Bản án số 34/2011/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2011 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, xử phạt Nguyễn Bảo Tr 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 4 năm 2011, chấp hành xong ngày 19 tháng 7 năm 2012.

+ Lần 02: Tại Bản án số 16/2013/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2013 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Tr 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 11 năm 2012, chấp hành xong ngày 11 tháng 8 năm 2015.

+ Lần 03: Tại Bản án số 06/2016/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Tr 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 12 năm 2015, chấp hành xong ngày 24 tháng 9 năm 2016.

+ Lần 04: Tại Bản án số 47/2018/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Tr 05 năm tù, bị cáo đang chấp hành tại trại giam Mỹ Phước.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy rằng bị cáo từng có 04 tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xét về hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng không tốt đến an ninh trật tự của địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc dành cho bị cáo mới phát huy được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội vì đã xâm hại trực tiếp đến tài sản của người khác và gây mất an ninh trật tự địa phương.

Tuy nhiên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy rằng thái độ khai báo của bị cáo tỏ ra thành khẩn, ăn năn. Từ đó Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Về vật chứng vụ án và về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HSST ngày 11/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công đã có hiệu lực pháp luật, không bị hủy để xem xét lại nên không đặt ra để xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 138; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

+ Bị cáo Nguyễn Bảo Tr 02(Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 05 (Năm) năm tù tại Bản án số 47/2018/HS- ST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Buộc bị cáo Nguyễn Bảo Tr phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2017.

*Về án phí: Bị cáo Nguyễn Bảo Tr phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm bản án theo quy định của pháp luật.

Án tuyên và kết thúc cùng ngày.

Cỡ chữ