vanban.org

Bản án 02/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định Tuyên án 26/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá Th phạm tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá Th 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định nhận được bản sao Bản án và Quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Bá Th phạm tội "Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông tham gia giao thông đường bộ" - phạm t…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá Th phạm tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 02/2020/HS-ST
Ngày 26-10-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Biểu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Như Huy.

Ông Lê Văn Sơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Biểu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2020, tại: Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bá Th. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1972, tại: Huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Thôn Định Thái, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Cha: Nguyễn Bá Kh (đã chết). Mẹ: Nguyễn Thị S (đã chết). Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Trần Thị H (sinh năm 1978). Con: Có 05 con (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2020). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Đại diện bị hại: Ông Trương Văn Th – sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Bá Th1 – sinh ngày 09/7/2005; Địa chỉ: Thôn Phương Quý 2, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum – có mặt.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá Th1: Bà Nguyễn Thị Hồng Th, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định – có mặt.

- Đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là người dưới 18 tuổi: Bà Nguyễn Thị Th – sinh năm: 1968; Địa chỉ: Thôn Định Thái, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Trương Thị K – sinh năm: 1987; Địa chỉ: Thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Ông Trần Văn M – sinh năm: 1972; Địa chỉ: Thôn Tiên Thái, xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.

+ Ông Lê Ngọc D – sinh năm: 1971; Địa chỉ: Thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/6/2020, sau khi hái ớt xong mang về đến nhà ở thôn Định Thái, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, bị cáo Nguyễn Bá Th bảo con ruột là Nguyễn Bá Th1 (sinh ngày 09/7/2005, ở thôn Phương Quý 2, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum) điều khiển xe của Th chở bao ớt xuống nhà ông V ở thôn Định Quang để bán. Bị cáo Th biết rõ Th1 không có giấy phép lái xe nhưng vì chủ quan cho rằng đoạn đường ngắn, sẽ không có sự việc gì xảy ra nên đã giao xe cho Th1 điều khiển. Nghe lời bị cáo Th, Th1 đồng ý điều khiển xe môtô biển số 77S8 – 0774 có dung tích xi lanh 97cm3 (đăng ký xe đứng tên người khác, bị cáo Th mua xe vào năm 2015 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ) đã cột sẵn bao ớt đi theo hướng từ thôn Định Thái xuống thôn Định Xuân, xã Vĩnh Quang (hướng Bắc – Nam). (Bút lục: 91 – 92; 95 – 96; 153 – 154).

Khi Th1 điều khiển xe môtô đi đến km số 08 + 800 đường ĐT 637 thuộc thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang thì thấy phía trước, cách Th1 khoảng 10m có ông Trương Tr (sinh năm 1943, ở thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang) đang đi bộ qua đường theo hướng từ Đông sang Tây. Th1 giảm tốc độ, điều khiển xe chạy sang phía bên phải đường theo hướng đi, lúc này, thấy ông Tr đi đến giữa đường rồi dừng lại, nghĩ rằng ông Tr sẽ nhường đường cho mình nên Th1 tiếp tục điều khiển xe chạy tới phía trước thì đột nhiên ông Tr tiếp tục đi bộ sang đến sát mép đường phía Tây. Th1 điều khiển xe lách sang phía bên phải nhưng do khoảng cách hai bên gần nhau nên gác chân trước bên trái xe quẹt trúng chân phải ông Tr làm ông Tr ngã ngửa xuống phần đường phía Tây, xe môtô ngã về bên trái trên lề đường phía Tây. Ông Tr được đưa đi cấp cứu, đến ngày 17/6/2020 thì chết. (Bút lục: 116 – 117; 153 – 154).

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Xe môtô 77S8 – 0774 ngã về phía bên trái trên lề đường phía Tây, đầu xe quay về hướng Đông Nam, đuôi xe quay về hướng Tây Bắc, trục sau xe cách mép đường phía Tây 2,87m, cách lòng bàn chân phải của ông Tr 4m, trên xe có 01 bao ớt cột phía sau yên xe; lòng bàn chân phải của ông Tr nằm ngay trên mép đường phía Tây. (Bút lục: 06 – 08).

Kết quả khám xe môtô 77S8 – 0774: Gương chiếu hậu bên trái, đầu tay cầm bên trái dính đất. (Bút lục: 26 – 27).

Kết quả khám nghiệm tử thi ông Trương Tr: Xây xát da vùng chẩm; bầm tụ máu vùng sau tai, cổ phải; đoạn 1/3 giữa sau cẳng chân phải có diện bong tróc vảy; vết thương vùng gót chân phải đã tróc vảy; mổ vùng chẩm thấy bầm tụ máu dưới da, có nhiều máu chảy ra. (Bút lục: 34 – 35).

Kết luận giám định pháp y về tử thi ông Trương Tr xác định nguyên nhân chết do chấn thương sọ não chảy máu nội sọ điều trị không hồi phục. (Bút lục: 36 – 37).

Về vật chứng, hiện đang tạm giữ xe và giấy đăng ký xe môtô 77S8 – 0774. Về bồi thường dân sự, trong quá trình ông Tr điều trị, bị cáo Th có gửi 5.000.000 đồng nhưng gia đình ông Tr không nhận vì cho rằng hoàn cảnh gia đình của bị cáo Th khó khăn, sau này gia đình sẽ có yêu cầu sau, ngày 11/8/2020, đại diện bị hại ông Trương Văn Th yêu cầu bồi thường chi phí điều trị của ông Tr với số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo Th đồng ý bồi thường số tiền trên và cam kết sẽ bồi thường trong thời gian sớm nhất. (Bút lục: 23 – 24; 107 – 108; 131 – 132).

Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSVT ngày 11 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, truy tố bị cáo Nguyễn Bá Th về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 264; Điều 36; Khoản 1 Điều 46; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Th từ 06 - 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Bá Th: Về hình sự: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của đại diện bị hại ông Trương Văn Th: Về hình sự: Xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất có thể.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, đại diện bị hại đều thống nhất: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của đại diện bị hại ông Trương Văn Th và bị cáo Nguyễn Bá Th về việc bị cáo Th phải bồi thường cho đại diện bị hại ông Th số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), bị cáo đã giao đủ số tiền trên cho đại diện bị hại tại phiên tòa nên yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện bị hại đều thống nhất: Đề nghị áp dụng Khoản 2 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tuyên giao cho Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xử lý theo thẩm quyền gồm: 01 xe mô tô biển số 77S8-0774 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số FMG3- 00001202 (mang tên chủ xe Nguyễn Văn Th), (Tất cả các vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).

Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng trong vụ án: Đều giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án, chứng minh được các tình tiết vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

\

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên; người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như Bản kết luận giám định pháp y, Biên bản khám nghiệm tử thi, các Biên bản khám nghiệm hiện trường và phương tiện, Sơ đồ hiện trường... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/6/2020, tại nhà của bị cáo Nguyễn Bá Th ở thôn Định Thái, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Mặc dù biết rõ con ruột của bị cáo Th là Nguyễn Bá Th1 mới 14 tuổi 10 tháng 23 ngày, không có giấy phép lái xe nhưng bị cáo vẫn giao xe môtô 77S8 – 0774 cho Th1 điều khiển tham gia giao thông đường bộ. Khi Th1 điều khiển xe đến đoạn đường km số 08 + 800 đường ĐT 637 thuộc thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, thấy ông Trương Tr là người đi bộ đang qua đường nhưng Th1 không nhường đường, lách tránh không an toàn tông vào người ông Tr, gây hậu quả làm ông Tr chết.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Bá Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Khoản 1 Điều 264 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận khắc phục hậu quả cho đại diện bị hại tại phiên tòa. Ngoài ra bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

. Về căn cứ quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn giao thông, không những gây ra thiệt hại về tính mạng của người khác (Ông Tr) mà còn gây hoang mang lo sợ cho những người tham gia giao thông, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ được hành vi của mình. Bị cáo biết rõ con ruột mình là Nguyễn Bá Th1 (là người chưa đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ) là nguy hiểm cho xã hội, có thể gây mất trật tự an toàn giao thông, gây tai nạn xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác (Ông Tr) nhưng bị cáo vẫn giao xe mô tô cho Th1 điều khiển gây ra tai nạn làm bị hại ông Tr bị thương tích nặng dẫn đến tử vong. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo và đại diện bị hại cũng yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất có thể. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

. Về khấu trừ thu nhập đối với bị cáo: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định con đông, còn nhỏ, thuộc hộ gia đình kinh tế khó khăn có xác nhận địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

. Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

. Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo, đại diện bị hại đều thống nhất: Yêu cầu Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bị cáo Th phải bồi thường cho đại diện bị hại ông Th số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), bị cáo Th đã giao đủ số tiền trên cho đại diện bị hại Th tại phiên tòa (Có văn bản thỏa thuận về việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Th và đại diện bị hại Th viết ngày 26/10/2020). Sự thỏa thuận của bị cáo Th và đại diện bị hại Th là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp vơi quy định tại Điều 584, 585, 586, 591 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

. Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 77S8-0774 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số FMG3- 00001202 (mang tên chủ xe Nguyễn Văn Th). Qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Th khai nhận đã mua lại xe mô tô trên từ tiệm sửa xe máy ở thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định nhưng chưa sang tên chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao xe mô tô trên cho Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xử lý theo thẩm quyền là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.

. Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Bá Th1 là người điều khiển xe trực tiếp gây ra tai nạn nhưng tính đến thời điểm gây tai nạn giao thông đường bộ thì Th1 mới 14 tuổi 10 tháng 23 ngày (Th1 sinh ngày 09/7/2005) chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 12 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp vơi quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình năm 2015 và Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá Th phạm tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 264, Điều 36; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá Th 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định nhận được bản sao Bản án và Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Bá Th cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Quang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Bá Th và đại diện bị hại Trương Văn Th đã thỏa thuận giải quyết xong nên Tòa không xét.

3.Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Khoản 2 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên giao: Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xử lý theo thẩm quyền 01 xe mô tô biển số 77S8-0774 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số FMG3- 00001202 (mang tên chủ xe Nguyễn Văn Th), (Tất cả các vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).

4. Về án phí:

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên buộc: Bị cáo Nguyễn Bá Th phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ