- Tranh chấp gì? án hình sự — "A L và A C phạm tội "Cướp tài sản" và " Chiếm đoạt tài sản" - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo A C và A L phạm tội “Cướp tài sản” và “Cưỡng đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 168 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 170 Bộ luật hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN H ỆN T TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HS-ST Ngày: 29/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN H ỆN T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ôn Tr n Minh Hu .
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Y Hoa.
2. Ông Đoàn Minh Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị N ọc Thươn – Thư ký T a án nh n d n hu n T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Phạm H n Phu - Kiểm sát viên.
Ngày 29/9/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân hu n T, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm côn khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2020/TLST- HS ngày 10/9/2020 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. A L, tên ọi khác: khôn , sinh n à 18/7/2001, tại tỉnh Kon Tum.
Nơi cư trú: Làng K, xã Đ, huy n T, tỉnh Kon Tum; n hề n hi p: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; d n tộc: Xê Đăn ; iới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Vi t Nam; con ông: A P và bà Y L; bị cáo là con thứ 2 tron ia đình có 10 anh chị em; Tiền án, tiền sự: khôn ; bị cáo bị tạm iữ từ ngày 03/3/2020 đến n à 12/3/2020, tạm iam từ n à 12/3/2020 cho đến na , bị cáo có mặt tại phiên t a.
2. A C, tên ọi khác: khôn , sinh n à 11/10/1988 tại Kon Tum.
Nơi cư trú: Làng K, xã Đ, huy n T, tỉnh Kon Tum; n hề n hi p: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; d n tộc: Xê Đăn ; iới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Vi t Nam; con ôn A Đ đã chết và bà Y S; bị cáo là con thứ 4 tron ia đình có 06 anh chị em; Tiền án, tiền sự: khôn ; bị cáo bị tạm iữ từ n à 04/3/2020 cho đến n à 12/3/2020, tạm iam từ n à 12/3/2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên t a.
- Người bào chữa cho các bị cáo A C và A L: Bà Nguyễn Thị Thúy H - Trợ iúp viên pháp lý của Trun t m trợ iúp pháp lý nhà nước tỉnh Kon Tum. (Theo quyết định số 25/QĐ-TGPL và 26/QĐ-TGPL ngày 16/3/2020 của Trung tâm trợ iúp pháp lý nhà nước tỉnh Kon Tum). Có mặt.
- Người phiên dịch cho bị cáo A L: Ông A G – Cán bộ Tư pháp hộ tịch UBND xã Đ, huy n T, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
- Người bị hại:
1. Thái Viết M, sinh năm 1993;
Nơi đăn kí HKTT và chỗ ở hi n nay: Thôn N, xã T, huy n P, tỉnh Quảng Nam.
2. Phạm Văn S, sinh năm 1989;
Nơi đăn kí HKTT và chỗ ở hi n nay: Thôn P, Xã B, huy n B, tỉnh Quảng Ngãi.
Đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Y L; sinh năm 1980; Địa chỉ: làn K, xã Đ, huy n T, tỉnh Kon Tum; có mặt.
2. Bà Y S; sinh năm 1960; Địa chỉ: làn K, xã Đ, huy n T, tỉnh Kon Tum; có mặt.
NỘI D NG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có tron h sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dun vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 03/03/2020, A L và A C tron lúc đan n i uống rượu cùng với mọi n ười tại làn K, xã Đ, huy n T thì n he có n ười nhắc đến công nhân Công ty Inno Green, lúc này A C nhìn thẳng vào mắt A L thì A L hiểu ý là đi đe dọa lấy tài sản. Sau khi uốn rượu xong, A C nói A L chở về nhà A Ch (ở cùng thôn) lấy dao (dao bằng kim loại, màu đen dài 52cm, có mũi nhọn, ở giữa có một khuyên kim loại kích thước 7×5cm, một bên mặt lưỡi dao khắc chữ “Đồ Long Đao” một bên khắc chữ “Anh A C”), A L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 82E1-03503 (màu trắng, đỏ, đen, giấy đăng ký chủ sở hữu tên Lê Hữu Hưng, trú tại: Ngọc Tiến, Đăk Sú, Ngọc Hồi, bán cho bà Y Sáu trú tại: Kon Pia, Đăk Hà, Tu Mơ Rông nhưng chưa sang tên đổi chủ) chở A C chạy xe vào khu vực lán công nhân của Công ty Inno Green (tọa độ E00547621; N01631493) tại làn K, xã Đ, huy n T, tỉnh K r i cả hai vào lán công nhân nằm ngủ. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, anh Phạm Văn S (sinh năm 1989, trú tại xã B, huyện B, tỉnh Q) đi đến lán mà A C, A L đang nằm tron đó để lấ đ , khi thấy anh S đi một mình thì A C ng i dậy tiến lại g n và đưa dao lên dí sát vào mặt của anh S, ph n mũi dao cách mặt anh S khoảng 7cm và dùng lời lẽ đe dọa chửi bới khiến anh S sợ s t và không dám chống cự. Lúc này A L cũn ng i dậy và tiến lại g n anh S, sau khi chửi xong, A C qua lưn lại và đi vào lán khoảng 2,1m thì A L hỏi anh S “Mày có tiền không đưa đây tao?”, đ ng thời A L tiến tới áp sát và lục soát n ười anh S, khi nghe A L hỏi anh S có tiền không thì A C c m dao đi tới đứng cạnh A L. Sau khi lục soát n ười anh S ở hai túi qu n phát hi n số tiền 7.000 đ ng (bảy ngàn đồng), một gói thuốc lá hi u GOLDEN EAGLE (đã qua sử dụng). A L đã chiếm đoạt toàn bộ số tài sản trên.
Sau đó đến 13h30’ cùn n à thì A L bị côn an xã Đ và Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huy n T lập biên bản giữ n ười tron trường hợp khẩn cấp và thu giữ toàn bộ tang vật. Đối với A C bỏ trốn đến 7h ngày 04/03/2020 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huy n T lập biên bản giữ n ười trong trường hợp khẩn cấp.
Tron quá trình điều tra, A L và A C đã tự khai ra một vụ chiếm đoạt tài sản trước đó, cụ thể như sau:
Vào khoản 14 iờ ngày 02/03/2020, A L và A C điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 82E1-03503 đến lán côn nh n của Côn t Inno Green tọa độ E00546764, N00163025 , thuộc làn K, xã Đ, hu n T, tỉnh Kon Tum, để đe dọa côn nh n Côn t Inno Green khôn được phát dọn rẫ nữa. Trên đườn đi, A L chở A C về nhà A C lấ con dao man theo (cùng con dao sử dụng ngày 03/03/2020), khi đi đến cách lán khoản : 1.137m A L và A C dừn xe và đi bộ theo đườn m n, đến cách lán khoản 48m thì A C đưa dao cho A L, A L c m dao và nhét vào phía sau lưn qu n r i cả hai đi tới lán. Lúc này có anh Thái Viết M (sinh năm 1993, trú tại: Xã T, huyện P, tỉnh Q) là côn nh n đan ở tron lán kiểm tra đ đạc, má móc, khi tới lán thì A C đi v n qua trước mặt anh M đến cuối sạp ỗ tron lán lấ một ốn kim loại (dài khoảng 1m, đường kính 2-3cm) tiến lại n anh M và nhả lên miến ỗ (làm bàn ăn, rộng 0,55m, dài 1,86m, cao 0,5m) đứn đối di n cách anh M khoản 1,3m, chỉ ốn kim loại vào mặt anh M, ốn kim loại cách mặt anh M 0,15m và dùn lời nói đe dọa, chửi bới khiến anh M sợ. Đ n thời lúc nà A L tiến lại n và đứn sau lưn cách anh M 2m. Sau khi chửi xon A C hỏi anh M “Có tiền không?” anh M trả lời là “Không có” và có ý định bỏ chạ , tu nhiên anh M n hĩ c n có chiếc xe má và má móc nên anh M đã ở lại. A C tiếp tục êu c u anh M lấ tiền tron túi ra, lúc này anh M móc túi ra 120.000 đ n (Một trăm hai mươi ngàn đồng) đưa cho A C và có nói: “Cho lại tiền đổ xăng”, A C đã lấ 50.000 đ n (Năm mươi nghìn đồng) và trả lại số tiền c n lại cho anh M, đ n thời êu c u anh M ra về. Lúc nà A L tiến và hỏi anh M: “Có lấy chìa khóa xe máy không?” anh M trả lời “Có”, A L tiếp tục nói: “Có tiền thì đưa đây?”, anh M thấ A C đứn trước mặt còn A L đứn bên cạnh mà phía sau lưn có nhét vật ì đó, nên anh M lấ ra 70.000 đ n (bảy mươi ngàn đồng) c n lại đưa cho A L và có nói: “xin lại tiền để đổ xăng” nên A L chỉ lấ 20.000 đ n (hai mươi ngàn đồng) và đưa lại cho anh M 50.000 đ n (năm mươi ngàn đồng), sau đó thì anh M đi về, c n A L, A C cũn đi về sau đó. Số tiền chiếm đoạt là 70.000 đ n (bảy mươi ngàn đồng) được A L và A C tiêu xài cá nh n hết.
Tại bản kết luận định iá tài sản tron tố tụn hình sự số: 02/KL-HĐ n à 11/06/2020 của Hội đ n định iá tron tố tụn hình sự hu n T, Kết luận: Một ói thuốc lá hi u GOLDEN EAGLE (đã qua sử dụng) c n 19 điếu có iá trị là 8.000 đ n (tám ngàn đồng).
Tại Bản cáo trạn số 01/CT- VKS ngày 08/9/2020 của Vi n kiểm sát nh n d n hu n T đã tru tố bị cáo A L, A C về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS.
Tại phiên t a đại di n Vi n kiểm sát nh n d n hu n T iữ nguyên cáo trạn tru tố về tội danh đối với các bị cáo. Về tình tiết iảm nhẹ b i thườn thi t hại, khắc phục hậu quả qu định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề n hị khôn áp dụn cho hai bị cáo tron tội Cướp tài sản vì tài sản hai bị cáo chiếm đoạt của anh S đã bị cơ quan điều tra thu iữ và n ười bị hại khôn bị thi t hại ì về vật chất lẫn tinh th n. Vì vậ , đề n hị Hội đ n xét xử:
Đối với bị cáo A C:
Áp dụn điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A C từ 07 đến 08 năm tù về tội Cướp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A C từ 01 đến 02 năm tù về tội Cưỡn đoạt tài sản.
Áp dụn Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt hai tội danh đối với bị cáo A C là từ 08 đến 10 năm tù.
Đối với bị cáo A L: Tại phiên t a, tron quá trình Đại di n Vi n kiểm sát xét hỏi bị cáo về hành vi chiếm đoạt tài sản đối với anh S, bị cáo A L khai quanh co, không thành khẩn nên không áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải qu định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Cướp tài sản và đề nghị Hội đ ng xét xử:
Áp dụn điểm d khoản 2 Điều 168; khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A L từ 08 đến 09 năm tù về tội Cướp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A L từ 01 đến 02 năm tù về tội Cưỡn đoạt tài sản.
Áp dụn Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt hai tội danh đối với bị cáo A L là từ 09 đến 11 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Văn S và anh Thái Viết M khôn êu c u A C và A L b i thườn nên khôn xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 con dao kim loại màu đen dài 52cm, mũi dao nhọn, ở iữa có một khu ên kim loại kích thước 7x5cm, một bên mặt lưỡi dao khắc chữ Đ LONG ĐAO”, một bên khắc chữ ANH A C”, là côn cụ, phươn ti n phạm tội đề n hị Hội đ n xét xử tu ên tịch thu, tiêu hủ .
- 01 tờ tiền m nh iá 5.000 đ n có số seri: 1423665, 01 tờ tiền m nh iá 2.000 đ n có số seri: 5879230 và 01 ói thuốc lá hi u GOLDEN EAGLE đã qua sử dụn c n 19 điếu, là tài sản do các bị cáo chiếm đoạt của anh S, anh S khôn có êu c u nhận lại, vì vậ đề n hị Hội đ n xét xử iải qu ết theo qu định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo ý kiến:
Tôi thốn nhất với đại di n Vi n kiểm sát về ph n tội danh đối với hai bị cáo. Tu nhiên, về các tình tiết iảm nhẹ, đề n hị Hội đ n xét xử xem xét áp dụn tình tiết b i thườn thi t hại khắc phục hậu quả cho hai bị cáo tron cả hai tội, vì tron tội Cướp tài sản, tu n ười bị hại khôn bị tổn thất ì về vật chất, nhưn hành vi của các bị cáo ph n nào làm ảnh hưởn đến tinh th n n ười bị hại, làm n ười bị hại hoản sợ nên các bị cáo đã tự n u n tác độn ia đình b i thườn thi t hại, khắc phục hậu quả về tinh th n cho n ười bị hại là c n thiết. N oài ra, số tiền các bị cáo chiếm đoạt của n ười bị hại khôn lớn, đề n hị hội đ n xét xử áp dụn tình tiết iảm nhẹ qu định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội nhưn
thi t hại khôn lớn cho hai bị cáo tron cả hai tội.
Đối với bị cáo A L, trong quá trình Đại di n Vi n kiểm sát xét hỏi về hành vi chiếm đoạt tài sản đối với anh S, bị cáo khai có điểm m u thuẫn với lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấ , bị cáo A L là n ười d n tộc thiểu số, khôn được đi học, khôn biết chữ phổ thôn , từ nhỏ chỉ ở nhà làm nông tại thôn K, xã Đ, hu n T , bị cáo khôn hiểu biết pháp luật, t m lý ra t a sợ s t nên ph n nào khôn hiểu được nhữn nội dun mà đại di n Vi n kiểm sát xét hỏi, không nhớ được nhữn tình tiết của vụ án nên trả lời có ph n quanh co, m u thuẩn nhưn sau khi được hội đ n xét xử iải thích, xét hỏi bổ sun , bị cáo đã khai thành khẩn, đún sự thật của vụ án và lời khai tại cơ quan điều tra. Vì vậ , đề n hị hội đ n xét xử xem xét áp dụn cho bị cáo tình tiết iảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tình tiết phạm tội do lạc hậu qu định tại điểm m, điểm s khoản 1 Điều 51 để iảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tron cả hai tội.
Từ nhữn ph n tích trên, tôi đề n hị Hội đ n xét xử:
Đối với bị cáo A C:
Áp dụn điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A C 05 năm tù về tội Cướp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, h, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A C 01 năm tù về tội Cưỡn đoạt tài sản.
Áp dụn Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt hai tội danh đối với bị cáo A C là 06 năm tù.
Đối với bị cáo A L:
Áp dụn điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, h, s, m khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A L 05 năm tù về tội Cướp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, h, r, s, m khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A L 01 năm tù về tội Cưỡn đoạt tài sản.
Áp dụn Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt hai tội danh đối với bị cáo A L là 06 năm tù.
Về án phí: Đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho hai bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại di n Vi n kiểm sát. Đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Nhữn n ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan là bà Y S và bà Y L không có ý kiến gì.
Căn cứ vào các tài li u, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên t a; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ sở xem xét đ đủ, toàn di n chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và nhữn n ười tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dun vụ án, căn cứ vào các tài li u tron h sơ vụ án đã được tranh tụn tại phiên t a, Hội đ n xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, qu ết định tố tụn của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n kiểm sát, Kiểm sát viên tron quá trình điều tra, tru tố đã thực hi n đún về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật tố tụn hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo khôn có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, qu ết định của Cơ quan tiến hành tố tụn , n ười tiến hành tố tụn . Do đó, các hành vi, qu ết định tố tụn của Cơ quan tiến hành tố tụn , n ười tiến hành tố tụn đã thực hi n đều hợp pháp.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
2.1. Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản n à 02/3/2020 của bị cáo A C và A L đối với anh Thái Viết M:
Bị cáo A C đã có hành vi dùn một ốn kim loại dài khoản 01 m, đườn kính 02 đến 03 cm chỉ vào mặt anh M và đe dọa, chửi bới c n A L đứn sau lưn anh M, cách khoản 02 đến 03 m; A C hỏi anh M “Có tiền không”, anh M trả lời “Không có” và có ý định bỏ chạ , nhưn n hĩ c n xe má và đ đạc tron lán nên anh M đã ở lại, A C tiếp tục êu c u anh M đưa tiền, sau đó anh M móc trong túi qu n ra 120.000 đ n đưa cho A C và nói “Cho xin lại tiền đổ xăng”, sau đó A C lấ 50.000 đ n đưa lại cho anh M 70.000 đ n . Khi anh M đi ra về thì A L nói “Có muốn lấy chìa khóa xe không”, anh M nói “ Có”, A L tiếp tục nói “Vậy đưa tiền đây”, anh M lấ 70.000 đ n đưa cho A L và nói cho xin lại tiền đổ xăn , A L lấ 20.000 đ n và đưa lại cho anh M 50.000 đ n , sau đó anh M đi về.
Xét hành vi của bị cáo A C đã có lời nói, hành vi đe dọa, u hiếp tinh th n đối với anh M để chiếm đoạt tài sản, A L đã có hành vi iữ chìa khóa xe má của anh M để đe dọa làm cho anh M phải đưa tiền cho bị cáo. Mặc dù bị hai bị cáo đe dọa và chiếm đoạt tài sản, nhưn tinh th n anh M vẫn tỉnh táo, có thời ian để su n hĩ vi c trả lời có tiền ha khôn có tiền, chưa rơi vào trạn thái khôn thể chốn cự được. Mặt khác, sau khi đưa tiền, anh M vẫn bình tĩnh xin hai bị cáo lại tiền để đổ xăn để đi về và khai có ý định bỏ chạ nhưn do trong lán c n xe má và đ đạc cá nh n nên khôn chạ và miễn cưỡn đưa tiền cho các bị cáo. Vì vậ , Cáo trạn của Vi n kiểm sát nh n d n hu n T tru tố bị cáo A C và A L về tội Cưỡn đoạt tài sản theo khoản 01 Điều 170 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đún n ười, đún tội.
2.2. Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản n à 03/3/2020 của bị cáo A C và A L đối với anh Phạm Văn S:
Sau khi thực hi n hành vi chiếm đoạt tài sản của anh M n à 02/3/2020, đến khoản 10 iờ n à 03/3/2020, bị cáo A C và A L tiếp tục c m dao đi đến lán trại của côn nh n côn t Inno Green. Sau khi ặp anh S tại lán, bị cáo A C dùng dao chỉ thẳn vào mặt anh S, mũi dao cách khoản 07 cm và dùn lời lẽ, đe dọa chửi bới liên tục làm cho anh S hoản sợ, lúc nà A L cũn tiến đến n anh S. Sau khi đe dọa anh S, A C quay vào lán, đi được khoản 2,1m, thì A L tiến đến n anh S và nói “Mày có tiền không đưa đây”, nghe A L hỏi vậ thì A C qua lại đứn n anh S, ta vẫn c m dao, lúc nà A L áp sát và lục soát n ười anh S lấ số tiền 7.000 đ n và 01 ói thuốc lá hi u Golden Ea le đã qua sử dụn và lấ toàn bộ số tài sản trên.
Xét hành vi của bị cáo A C đã có lời nói, hành vi dùn dao là hun khí n u hiểm để đe dọa, chửi bới, bị cáo A L đã có hành vi u hiếp, áp sát dùn ta lục soát n ười anh S để lấ tài sản. Nhữn hành độn liên tục của các bị cáo đã làm cho anh S hoản sợ, khôn có một lời nói ha hành độn phản khán nào khác mà chỉ đứn im, rơi vào tình trạn tê li t về ý chí, khôn thể chốn cự được mặc cho hai bị cáo chiếm đoạt tài sản. Vì vậ , Cáo trạn của Vi n kiểm sát nh n d n hu n T tru tố hai bị cáo về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đún n ười, đún tội.
Xét mức độ, hành vi phạm tội của hai bị cáo là rất n hiêm trọn , x m phạm đến qu ền nh n th n và sở hữu tài sản của n ười khác,
mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởn xấu đến qu n chún nh n d n trên địa bàn nên c n phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, tươn xứng với hành vi phạm tội của hai bị cáo gây ra là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với hai bị cáo và phòng ngừa chun đối với các loại tội phạm.
Về tình tiết tăn nặng, giảm nhẹ:
3.1. Về tình tiết tăn nặng: Hai bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
3.2. Về tình tiết giảm nhẹ:
Tại phiên t a, đại di n Vi n kiểm sát đề nghị khôn áp dụn cho hai bị cáo được hưởn tình tiết iảm nhẹ là b i thườn thi t hại, khắc phục hậu quả qu định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tron tội Cướp tài sản, vì tài sản hai bị cáo chiếm đoạt của anh Sanh đã bị cơ quan điều tra thu iữ và n ười bị hại khôn bị thi t hại ì về vật chất lẫn tinh th n; đề nghị không áp dụng cho bị cáo A L được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong tội Cướp tài sản, vì tại phiên tòa bị cáo khai không thành khẩn. Xét thấy, trong quá trình điều tra, hai bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tu n ười bị hại không bị thi t hại gì về vật chất nhưn sau khi phạm tội, cả hai đã tác độn ia đình b i thườn một ph n thi t hại về tinh th n cho n ười bị hại, n ười bị hại đã có đơn xin iảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo A L là n ười d n tộc thiểu số, khôn được đi học, khôn biết chữ phổ thôn , khôn hiểu biết pháp luật, thời ian xả ra vụ án đã khá lâu nên tại phiên t a bị cáo trả lời có nhữn c u khôn đ n nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, nhưn sau khi được n ười bào chữa và hội đ n xét xử iải thích, xét hỏi bổ sun , bị cáo đã khai thành khẩn, đún sự thật và phù hợp với lời khai của bị cáo A C, lời khai tại cơ quan điều tra và các tài li u chứn cứ khác có tron h sơ vụ án. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ qu định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự trong cả hai tội Cướp tài sản và Cưỡn đoạt tài sản là phù hợp.
Sau khi bị bắt về hành vi cướp tài sản n à 03/3/2020 đối với anh S, trong quá trình điều tra, hai bị cáo đã tự nguy n khai ra hành vi cưỡn đoạt tài sản n à 02/3/2020 đối với anh M khi chưa bị ai phát hi n và chưa có đơn trình báo của anh M. Vì vậy, hai bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự trong tội Cưỡn đoạt tài sản.
Riêng bị cáo A C có cha mẹ là n ười có công với nước nên xem xét, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ qu định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo trong cả hai tội Cướp tài sản và Cưỡn đoạt tài sản để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy, hai bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội l n đ u, là n ười đ ng bào dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc bi t khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, không có tình tiết tăn nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ qu định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để chuyển khung hình phạt đối với hai bị cáo trong tội Cướp tài sản và xử mức thấp nhất của khung hình phạt trong tội Cưỡn đoạt tài sản cũn đủ sức răn đe và thể hi n sự khoan h ng của pháp luật đối với hai bị cáo.
Đ là vụ án đ ng phạm giản đơn, hai bị cáo không có sự bàn bạc, phân chia nhi m vụ mà cùng nhau thực hi n tội phạm. Nhưn xét vai tr của từng bị cáo thấy rằng, bị cáo A C là n ười chủ động c m dao đi theo và thể hi n sự hung hăn hơn bị cáo A L khi thực hi n hành vi phạm tội nên xử phạt bị cáo A C mức hình phạt cao hơn bị cáo A L. Tuy nhiên, bị cáo A C có nhiều tình tiết giảm nhẹ qu định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự hơn bị cáo A L nên c n xem xét, cân nhắc giảm nhẹ một ph n hình phạt đối với bị cáo để xử hai bị cáo mức hình phạt tươn đươn nhau là phù hợp.
Về trách nhi m dân sự:
Đối với số tiền 70.000 đ ng bị cáo A C và A L chiếm đoạt của anh M, anh M tự nguy n cho hai bị cáo và không có yêu c u gì, anh S cũn khôn có êu c u gì về dân sự nên hội đ ng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hi u WARE RSX màu trắn đỏ đen, biển kiểm soát 82E1-03503, số máy 6360441, số khung 413091 là xe của bà Y Sáu do A C tự ý lấ đi bà khôn biết, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Y S là phù hợp (Theo biên bản trả lại đ vật, tài li u ngày 21/8/2020 của cơ quan điều tra), bà Y S đã nhận lại xe và không có yêu c u gì nên hội đ ng xét xử không xem xét
Đối với 01 tờ tiền m nh iá 10.000 đ ng, số seri 14393463 và 01 bật lửa hi u TANAKA đã qua sử dụng) của bị cáo A L, xét khôn liên quan đến vi c phạm tội nên cơ quan điều tra trả lại cho A L (Theo biên bản trả lại đ vật tài li u ngày 24/8/2020 của cơ quan điều tra), A L đã nhận lại và không có yêu c u gì nên hội đ ng xét xử không xem xét.
Đối với 01 tờ tiền m nh iá 5.000 đ ng có số seri 1423665, 01 tờ tiền m nh iá 2.000 đ ng có số seri 5879230 và 01 gói thuốc hi u Golden Eagle còn 19 điếu, là tài sản do hai bị cáo chiếm đoạt của anh S, anh S không có nhu c u nhận lại và đề nghị Hội đ ng xét xử giải quyết theo qu định của pháp luật. Xét thấ , theo hướng dẫn tại mục 3 côn văn 233/TANDTC/PC n à 01/10/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về vi c trao đổi nghi p vụ thì các tài sản trên không thuộc trường hợp tịch thu nên hội đ ng xét xử ghi nhận ý kiến của anh S và trả lại các tài sản trên cho anh Sanh là phù hợp.
Đối với con dao bằng kim loại màu đen, dài 52 cm, mũi nhọn, ở giữa có 01 khuyên kim loại kích thước 7x5 cm, một bên mặt lưỡi dao có khắc chữ “Đồ Long Đao”, một bên khác chữ “Anh A C” là phươn ti n hai bị cáo dùn để phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2020 giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huy n T).
Đối với một ốn kim loại dài khoản 01 m, đườn kính 02 đến 03 cm do bị cáo A C dùn để đe dọa anh M, sau đó đã vứt đi, cơ quan điều tra đã tổ chức tru tìm nhưn khôn thấ nên hội đ n xét xử khôn có cơ sở để xem xét.
. Đối với số tiền 200.000 đ ng mà bà Y S (mẹ bị cáo A C) và 200.000 đ ng bà Y L (mẹ bị cáo A L đã nộp thay cho hai bị cáo theo biên bản tạm giữ đ vật tài li u ngày 16/6/2020 của Cơ quan điều tra (Bút lục 212,213 để b i thường thi t hại, khắc phục hậu quả cho n ười bị hại nhưn n ười bị hại không nhận và không có yêu c u gì. Xét thấ đ là tài sản của bà Y S và bà Y L, không phải vật chứng của vụ án nên trả lại cho bà Y S và bà Y L mỗi n ười 200.000 đ ng là phù hợp. Bà Y S và bà Y L cũn khôn có êu c u gì khác nên hội đ ng xét xử không xem xét.
Đối với ý kiến của n ười bào chữa cho hai bị cáo: Hội đ n xét xử xét thấ có cơ sở nên hi nhận và c n nhắc khi lượn hình.
Về hình phạt bổ sun : hai bị cáo là n ười d n tộc thiểu số sốn tại vùn kinh tế đặc bi t khó khăn, làm nôn , khôn có thu nhập ổn định nên khôn áp dụn hình phạt bổ sun đối với hai bị cáo.
Về án phí: Bị cáo A C và A L là n ười đ ng bào dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc bi t khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên Hội đ ng xét xử xem xét, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho hai bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo A C và A L phạm tội “Cướp tài sản” và “Cưỡng đoạt tài sản”
Áp dụn điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo A C 04 năm 06 thán tù về tội Cướp tài sản
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo A C 01 năm tù về tội Cưỡn đoạt tài sản.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội danh đối với bị cáo A C là 05 năm 06 thán tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 04/3/2020).
Áp dụn điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo A L 04 năm 06 thán tù về tội Cướp tài sản
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo A L 01 năm tù về tội Cưỡn đoạt tài sản.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội danh đối với bị cáo A L là 05 năm 06 thán tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 03/3/2020).
2. Đối với số tiền 200.000 đ ng mà bà Y S (mẹ bị cáo A C) và 200.000 đ ng mà bà Y L (mẹ bị cáo A L) đã nộp tại cơ quan điều tra : Áp dụn điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bà Y S và bà Y L mỗi n ười 200.000 đ ng.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; mục 3 côn văn 233/TANDTC/PC ngày 01/10/2019 của Tòa án nhân dân tối cao trả lại cho anh Phạm Văn S 01 tờ tiền m nh iá 5.000 đ ng có số seri 1423665, 01 tờ tiền m nh iá 2.000 đ ng có số seri 5879230 và 01 gói thuốc lá c n 19 điếu hi u Golden Eagle.
Áp dụn điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủ đối với 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 52 cm, mũi nhọn, ở giữa có 01 khuyên kim loại kích thước 7x5 cm, một bên mặt lưỡi dao có khắc chữ “Đồ Long Đao”, một bên khác chữ “Anh A Ch”.
Các vật chứng trên hi n Chi cục Thi hành án dân sự huy n T đan quản lý trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2020 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huy n T
4. Về án phí:
Áp dụn điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo A C và A L.
5. Về qu ền khán cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụn hình sự, các bị cáo, n ười có qu ền lợi và n hĩa vụ liên quan có qu ền khán cáo bản án tron hạn 15 n à , kể từ n à tu ên án sơ thẩm. Đối với nhữn n ười bị hại vắn mặt tại phiên tòa có qu ền khán cáo bản án tron hạn là 15 n à kể từ n à nhận được bản án hoặc bản án được tốn đạt hợp l ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Trại tạm iam Côn an tỉnh Kon Tum - Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum; - VKSND hu n T; - Côn an hu n T; - Chi cục THADS hu n T; - Nhữn n ười TGTT; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huy |