- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Nông Ha phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Hoàng Nông Ha phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HS - ST Ngày 21/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thiết
Bà Chu Thị Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2020/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Hoàng Nông Ha- Tên gọi khác: Không, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1990 tại xã N, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn NV, xã N, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị B; Vợ là Lộc Thị M: Có 01 con sinh năm 2017.
Tiền án: Không;
Tiền sự: 02.
Ngày 08/7/2019 bị Công an xã N, huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 03/9/2019 bị Công an huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Hiện nay bị cáo đang chấp hành án của bản án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hồng Th, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Tổ xx, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện đang công tác tại: Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở N, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lạc Văn H, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn NV, xã N, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở N, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Người đại diện hợp pháp thep pháp luật: Ông Nguyễn Đỗ Y- Chức vụ: Phó hiệu trưởng quyền phụ trách. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
Chị Dương Thị L, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện C.C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/10/2019, Lạc Văn H sinh năm 1996 trú tại thôn NV, xã N, huyện Pác Nặm điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda BKS 97F9-xxxx chở Hoàng Nông Ha đi huyện C.C, tỉnh Bắc Kạn chơi. Khoảng 12 giờ cùng ngày thì H cùng Ha đi về, khi đến Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS N thuộc thôn P, xã N, huyện Pác Nặm thì H điều khiển xe đi lên trường học, thấy vậy Ha hỏi “lên làm gì”, H trả lời lên lấy bằng tốt nghiệp nên Ha xuống xe đứng đợi ở gần cổng trường, còn H tiếp tục điều khiển xe đi lên trường học. Đợi được khoảng 10 phút, Ha đi bộ lên đến sân trường thì gặp H đang đi xe ra, Ha lên xe cùng H đi xuống đến đường xxxC thì H dừng xe và nói “ở trong phòng ngủ của giáo viên có cái điện thoại”, Ha hỏi “sao không lấy?”, H trả lời “có người không lấy được”, lúc này Ha nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên nói “để tao lên xem”. Sau đó Ha tự điều khiển xe môtô đi lên trường học, còn H xuống xe đứng đợi ở đường xxxC. Ha đi lên đến sân gần khu nhà hiệu bộ thì dừng xe và đi bộ vào khu tập thể giáo viên của nhà trường, Ha đi ra nhà vệ sinh sau đó quay lại dọc theo hành lang khu tập thể thì thấy các phòng đều đóng cửa, chỉ có phòng cuối cùng từ nhà vệ sinh đi ra còn mở cửa. Ha nhìn vào trong phòng thì thấy 01 chiếc điện thoại di động màu vàng nhãn hiệu Samsung Galaxy J5, loại màn hình cảm ứng đang sạc điện được đặt trên quyển sách bên trên chiếc hòm bằng tôn để ở ngay sát cửa ra vào. Ha đứng ở cửa cúi người xuống rút chiếc điện thoại ra khỏi dây sạc và giấu vào trong túi quần bên trái đằng trước. Sau khi lấy được điện thoại, Ha điều khiển xe đi ra thì gặp H đang đứng ở sân trường, Ha gật đầu với H và nói “lên nhanh để đi C.C chơi”, H ngồi lên xe rồi Ha điều khiển xe đi xuống đường xxxC và đi thẳng ra Huyện C.C, mục đích là đi bán chiếc điện thoại vừa lấy trộm được. Trên đường đi Ha nói “lấy được điện thoại rồi”, H nói “đưa tao xem”, Ha lấy chiếc điện thoại cho H thì H tháo sim vứt đi. Khi đi đến đường xxx thị trấn C, huyện C.C, H đưa chiếc điện thoại lại cho Ha. Sau đó cả hai người cùng đi đến cửa hàng điện thoại di động TM tại tiểu khu x thị trấn C, huyện C.C với mục đích để bán nhưng chưa kịp giao dịch thì bị Công an xã N phối hợp với Công an huyện Pác Nặm phát hiện.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, Nguyễn Thị Hồng Th đã trình báo cơ quan chức năng đề nghị giải quyết.
Tiến hành điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đã lấy lời khai của bị can, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khám nghiệm hiện trường, tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động và yêu cầu định giá tài sản.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 09/10/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm xác định: Hiện trường vụ trộm cắp tài sản là tại nhà công vụ của giáo viên Trường phổ thông dân tộc bán trú THCS N thuộc thôn P, xã N, huyện Pác Nặm. Nhà gồm 06 phòng mỗi phòng đều có kích thước (2,90 x 6,0) mét; Phía Đông là bể nước; phía Tây là khoảng sân; Phía Bắc là đồi của cây của Giàng Văn V; phía Nam là dãy nhà công vụ. Vị trí để chiếc điện thoại là trên chiếc hòm bằng tôn kê sát tường trong phòng thứ nhất hướng từ Nam sang Bắc.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 05 ngày 17/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Pác Nặm kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 trị giá 1.266.667 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Nông Ha khai nhận: Khoảng hơn 12 giờ ngày 01/10/2019, tại trường phổ thông dân tộc bán trú THCS N thuộc thôn P, xã N, huyện Pác Nặm, Ha được thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng. Ngoài ra trước đó vào tháng 5/2019 Ha có hành vi trộm cắp tài sản, ngày 08/7/2019 bị Công an xã N, huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính; Ngày 07/7/2019 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 03/9/2019 bị Công an huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính.
Lời khai của bị can Hoàng Nông Ha phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSPN ngày 07/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử Hoàng Nông Ha về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Nông Ha phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
a) Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng đểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hoàng Nông Ha từ 06 đến 09 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 06 (Sáu) tháng tù tại bản án số 14/2019/HS-ST ngày 02/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Hoàng Nông Ha phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 12 đến 15 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
b) Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Trả lại 01 điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Hồng Th.
c) Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Hồng Th và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đỗ Y không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
d) Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Hoàng Nông Ha nói lời sau cùng có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ ngày 01/10/2019 Lạc Văn H sinh năm 1996 trú tại thôn NV, xã N, huyện Pác Nặm điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda BKS 97F9-xxxx mượn của anh Lạc Văn H chở Hoàng Nông Ha đi lên Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS N thuộc thôn P, xã N, huyện Pác Nặm với mục đích lấy bằng tốt nghiệp của H, lên đến cổng trường Ha xuống xe đứng đợi ở gần cổng trường, còn H tiếp tục điều khiển xe đi lên trường học, kkhoảng 10 phút sau H đi xe ra thì gặp Ha ở sân trường, Ha lên xe cùng H đi xuống đến đường xxxC thì H dừng xe và nói “ở trong phòng ngủ của giáo viên có cái điện thoại”, Ha hỏi “sao không lấy?”, H trả lời “có người không lấy được”, lúc này Ha nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên nói “để tao lên xem”, Ha tự điều khiển xe môtô đi lên trường học, còn H xuống xe đứng đợi ở đường xxxC, Ha đi lên đến sân gần khu nhà hiệu bộ thì dừng xe và đi bộ vào khu tập thể giáo viên của nhà trường, Ha đi ra nhà vệ sinh sau đó quay lại dọc theo hành lang khu tập thể thì thấy các phòng đều đóng cửa, chỉ có phòng cuối cùng từ nhà vệ sinh đi ra còn mở cửa. Ha nhìn vào trong phòng thì thấy 01 chiếc điện thoại di động màu vàng nhãn hiệu Samsung Galaxy J5, loại màn hình cảm ứng đang sạc điện được đặt trên quyển sách bên trên chiếc hòm bằng tôn để ở ngay sát cửa ra vào. Ha đứng ở cửa cúi người xuống rút chiếc điện thoại ra khỏi dây sạc và giấu vào trong túi quần bên trái đằng trước. Sau khi lấy được điện thoại, Ha điều khiển xe đi ra thì gặp H đang đứng ở sân trường, Ha gật đầu với H và nói “lên nhanh để đi C.C chơi”, H ngồi lên xe rồi Ha điều khiển xe đi xuống đường xxxC và đi thẳng ra Huyện C.C mục đích là đi bán chiếc điện thoại vừa lấy trộm được. Trên đường đi Ha nói “lấy được điện thoại rồi”, H nói “đưa tao xem”, Ha lấy chiếc điện thoại cho H thì H tháo sim vứt đi. Khi đi đến đường xxx thị trấn C, huyện C.C, H đưa chiếc điện thoại lại cho Ha. Sau đó cả hai người cùng đi đến cửa hàng điện thoại di động TM tại tiểu khu x thị trấn C, huyện C.C với mục đích để bán nhưng chưa kịp giao dịch thì bị Công an xã N phối hợp với Công an huyện Pác Nặm phát hiện.
Tài sản là chiếc điện thoại của chị Nguyễn Thị Hồng Th mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị 1.266.667đ (Một triệu hai trăm sáu sáu nghìn, sáu trăm sáu bảy đồng). Tuy nhiên bị cáo Hoàng Nông Ha đã có 02 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên hành vi bị cáo trộm cắp chiếc điện thoại của chị Nguyễn Thị Hồng Th đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.
Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố về tội “trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Xét tính chất nghiêm trọng, mức độ phạm tội của bị cáo thấy.
Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý bằng pháp luật hình sự, nhưng do muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo đã bất chấp. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần phải có hình phạt xứng đáng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
.Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, có 02 tiền sự đó là Ngày 08/7/2019 bị Công an xã N, huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Ngày 03/9/2019 bị Công an huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải cịu tình tiết tăng nặng nào; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn do vậy bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. HĐXX xét thấy bị cáo là thanh niên, có sức khỏe nhưng lười lao động nên đã có hành vi trộm cắp tài sản, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra, xác minh cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng của vụ án gồm:
01 (Một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda BKS 97F9 - xxxx màu sơn đỏ đen kết quả điều tra xác định chủ sở hữu là anh Lạc Văn H, sinh năm 1994 trú tại thôn NV, xã N, huyện Pác Nặm, chiếc xe này anh H sử dụng vào việc đi lại. Tuy nhiên Lạc Văn H mượn chiếc xe này để cùng Hoàng Nông Ha sử dụng vào việc phạm tội nhưng anh H không biết. Ngày 21/11/2019 Cơ quan điều tra Công an huyện Pác Nặm đã trả lại chiếc xe trên cho anh Lạc Văn H là phù hợp.
01 (Một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở hữu của Nguyễn Thị Hồng Th do vậy cần trả lại cho chị T.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Hồng Th và người đại diện theo pháp luật của bên có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đỗ Y không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.
Trong vụ án còn có Lạc Văn H là người đã nói cho Ha biết địa điểm có chiếc điện thoại, cho Ha mượn xe mô tô, biết việc Ha trộm cắp tài sản và cùng tham gia vào việc đi bán tài sản do trộm cắp mà có. Tuy nhiên, ngày 11/10/2019 H đã chết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hộ khẩu thường trú và chỗ ở thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Hoàng Nông Ha phạm tội “Trộm cắp tài sản”
[2]. Áp dụng đểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3]. Xử phạt bị cáo Hoàng Nông Ha 06 (Sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 06 (Sáu) tháng tù tại bản án số 14/2019/HS-ST ngày 02/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Hoàng Nông Ha phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 11 năm 2019.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Hồng Th và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đỗ Y không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Trả lại 01 điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Hồng Th trú tại tổ xx, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện đang công tác tại: Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở N, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm).
[6]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[7]. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhân:
| - VKSND huyện Pác Nặm. (01b) - TAND tỉnh Bắc Kạn. (01b) - VKSND tỉnh Bắc Kạn.(01b) - Bộ phận hồ sơ CA huyện Pác Nặm. (03b) - Chi cục THADS huyện Pác Nặm. (01b) - Sở Tư pháp. (01b) - Bị cáo. (01b) - Bị hại (01b) - Người có QL,NVLQ. (01b) - Lưu hs; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Thanh Tuấn |