vanban.org

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích A. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Bích A - Nguyễn Văn D "Ly hôn, nuôi con chung""
  • Tòa quyết gì? 1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 06/01/2020.
(V/v: Ly hôn, nuôi con chung)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Bính.

2. Bà: Lê Thị Kiều Thu.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thái Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 586/2019/TLST- HNGĐ ngày 18/9/2019 “V/v: Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 400/2019/QĐST – HNGĐ ngày 26/11/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2019/QĐST – HN ngày 18/12/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích A, sinh năm 1989. Địa chỉ: số 195, đường B, phường C, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ E, khu phố F, phường G, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 9 năm 2019, bản tự khai ngày 19/9/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích A trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Nguyễn Văn D tự tìm hiểu và quen biết nhau đến năm 2014 thì đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H cấp ngày 29/9/2014. Trong thời gian sống chung nhau, vợ chồng bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn mất đoàn kết, ông bà cố gắng khắc phục những mâu thuẫn sống chung xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng càng khắc phục thì càng mâu thuẫn, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Vào tháng 7/2019, bà có làm đơn xin ly hôn nhưng sau đó rút đơn để vợ chồng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: có 1 con chung Nguyễn Khánh I, sinh ngày 30/10/2014. Nguyện vọng sau khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi và yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Bích A trình bày: bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Văn D vì vợ chồng đã sống ly thân hơn 6 tháng nay nên không còn tình cảm nữa. Bà yêu cầu nuôi, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

*Bị đơn ông Nguyễn Văn D có nơi cư trú tại Tổ E, khu phố F, phường G, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận. Do ông D thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú nên Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng:“thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa” theo quy định của Luật tố tụng dân sự.

Tại phiên Tòa vắng mặt ông Nguyễn Văn D.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung giao con Nguyễn Khánh I, sinh ngày 30/10/2014 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng.Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: thẩm quyền giải quyết vụ án, phía bị đơn ông Nguyễn Văn D có nơi cư trú tại Tổ E, khu phố F, phường G, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích A về việc“Ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố PT.

Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn D vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung khởi kiện:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bích A và ông Nguyễn Văn D là hợp pháp vì ông bà chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 29/9/2014 tại UBND phường H, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 84/2014, quyển số 01/2014. Trong quá chung sống, vợ chồng không hòa hợp chia sẽ cùng nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng phát sinh trầm trọng, vào tháng 7/2019 bà A có làm đơn xin ly hôn với ông D sau đó rút đơn về để vợ chồng hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Theo biên bản xác minh tại địa phương nơi vợ chồng bà A sinh sống cho biết vợ chồng bà thường xuyên gây gỗ cãi nhau, hiện nay bà A không còn sống chung với ông D nữa. Qua đây, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông D thật sự là có mâu thuẫn xảy ra và mặc dù ông D biết được bà A làm đơn xin ly hôn với ông nhưng ông D vẫn bỏ mặc không quan tâm đến, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chính vì vậy đã làm cho cuộc hôn nhân của ông bà ngày càng lâm vào tình trạng trầm trọng hơn nữa, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Ông D đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa nhưng tại phiên toà hôm nay vẫn vắng mặt ông D, chứng tỏ ông D đã khước từ quyền tham gia tố tụng của mình nên việc xét xử vắng mặt ông D là phù hợp, đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng cho bà A.

Từ những nhận định trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Bích A.

Về con chung: có 1 con chung Nguyễn Khánh I, sinh ngày 30/10/2014. Tại phiên tòa hôm nay, bà A yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay cháu I đang ở với mẹ có cuộc sống ổn định nên tiếp tục giao cháu I cho bà A nuôi dưỡng là có cơ sở. Đối với cấp dưỡng nuôi con, bà A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Về tài sản chung và nợ chung: bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: bà Nguyễn Thị Bích A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích A.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích A được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: giao con Nguyễn Khánh I, sinh ngày 30/10/2014 cho bà Nguyễn Thị Bích A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà A không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Ông D có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích A nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Bà A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0028060 ngày 18/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố PT.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/01/2020). Quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Cỡ chữ