vanban.org

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phúc T đối với bà Dương Thu Th về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Trần Phúc T ly hôn với bà Dương Thu Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "kiện ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST
Ngày 20-02-2020
V/v “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hƣơng;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoài Tâm;

Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dƣơng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 351/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Trần Phúc T, sinh năm 1990; Trú tại: đường D, khu vực 3, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ( Nay là đường C, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ); Có mặt.

* Bị đơn: Bà Dương Thu Th, sinh năm 1994; Trú tại: đường P, khu vực 1, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Phúc T trình bày:

Ông T và bà Th tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 07/12/2012. Ông bà chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi. Ông T và bà Th đã sống ly thân nhau khoảng 04 năm nay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, ông bà không còn quan tâm đến nhau. Ông nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Th.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có một con chung tên Trần Khả H(nữ), sinh ngày 29/01/2013. Hiện con đang sống chung với ông T, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu bà Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Dương Thu Th, Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà Th vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Th theo thủ tục niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Về quan điểm giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Chấp nhận giao con chưa thành niên cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con cũng như không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Trần Phúc T khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con với bà Dương Thu Th; Trú tại đường P, khu vực 1, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xác định: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Dương Thu Th được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia hòa giải nhưng bà Th cố tình vắng mặt. Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đến nay, bà Th vắng mặt lần thứ hai, không rõ lý do nên căn cứ vào Khoản 2, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà Th.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Phúc T và bà Dương Thu Th tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào năm 2012. Hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà Th phát sinh mâu thuẫn từ việc bất đồng quan điểm, thường xuyên bất hòa. Thực tế ông và bà Th đã không còn chung sống với nhau từ năm 2016 cho đến nay mà không thể giải tỏa mâu thuẫn để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Hiện tại ông bà không còn liên lạc cũng như không còn quan tâm đến nhau, mỗi người có cuộc sống riêng. Tại phiên tòa ông Th xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà Th và cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng bà Th đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn của ông T. Điều này chứng tỏ bị đơn bà Th không có thiện chí để đoàn tụ gia đình với ông T.

Từ những lý do trên cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa ông bà đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên việc ông T yêu cầu được ly hôn với bà Th là có cơ sở, phù hợp với căn cứ cho ly hôn tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.

Về con chung:

Ông bà có một con chung và hiện tại đang sinh sống cùng với ông T. Do đó tiếp tục giao con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và cũng như phù hợp với nguyện vọng của con đủ 7 tuổi, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của ông T. Đồng thời dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà Th không ai được quyền ngăn cản.

Ông T không yêu cầu bà Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về Tài sản chung, nợ chung: Tại phiên tòa ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời bị đơn bà Th vắng mặt nên Tòa án không đặt ra xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác để yêu cầu Tòa án giải quyết nếu có tranh chấp.

Về án phi hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng

́ dân sự năm 2015 và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phúc T đối với bà Dương Thu Th về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Trần Phúc T ly hôn với bà Dương Thu Th.

2.Về con chung: Giao con chung tên Trần Khả H(nữ), sinh ngày 29/01/2013 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Không buộc bà Th cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà Th, không ai được quyền ngăn cản.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do nguyên đơn không yêu cầu. Các đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác để yêu cầu Tòa án giải quyết nếu có tranh chấp.

4.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn là 300.000(Ba trăm nghìn)đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm nguyên đơn đã nộp là 300.000(Ba trăm nghìn)đồng theo biên lai thu số 004110 ngày 04/10/2019 của Chi cục thi hành án Dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí.

5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án(Ngày 20/02/2020). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. *Nơi nhận:

Cỡ chữ