vanban.org

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh Tr về việc xin ly hôn với ông Trần Công Th.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh Tr được ly hôn với ông Trần Công Th. Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc T (nữ) sinh ngày 09/04/2019 cho bà Nguyễn Thị Thanh Tr tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Trần Công Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh Tr "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" Trần Công Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh Tr về việc xin ly hôn với ông Trần Công Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 27-02-2020
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị The

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Văn Bún

Ông Bùi Đức Hảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 04/2020/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2020 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/02/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Tr, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp T, xã Th, huyện H, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Trần Công Th, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp T, xã Th, huyện H, tỉnh Long An.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 07 tháng 01 năm 2020 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Tr trình bày:

Sau thời gian quen biết, bà và ông Trần Công Th quyết định tiến đến hôn nhân vào năm 2015, có tổ chức đám cưới, đến ngày 04/4/2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện H, tỉnh Long An. Ông bà sinh sống tại ấp T, xã Th, huyện H, tỉnh Long An. Trong quá trình sống chung vợ chồng bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến cải vã không hợp nhau. Nguyên nhân là ông Th không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, bà đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng không thay đổi. Bà đã cố gắng vun đắp hạnh phúc gia đình nhưng vẫn không được, mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài được nữa, vợ chồng không còn tình thương và hôn nhân không có hạnh phúc nên bà xin ly hôn.

Về con chung: Giữa bà và ông Trần Công Th có một con chung tên Trần Ngọc T (nữ) sinh ngày 09/4/2019 hiện đang sống chung với bà, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng.

Về tài sản, nợ: Không có.

Bị đơn ông Trần Công Th trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thanh Tr về điều kiện kết hôn, quá trình sống chung, con chung cũng như mâu thuẫn vợ chồng là do ông cờ bạc. Hiện nay ông đang sửa sai trong việc mâu thuẫn giữa vợ chồng nên không đồng ý ly hôn với bà Tr.

Về con chung: Vợ chồng ông có một con chung tên Trần Ngọc T (nữ) sinh ngày 09/4/2019. Trường hợp ly hôn, ông xin nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nợ chung: Không có.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn: Tất cả đều tuân theo pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Về nguyên nhân mâu thuẫn, theo bà Tr trình bày là do ông Th đi đánh bạc, gia đình đã khuyên can nhiều lần nhưng ông Th không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Tại phiên tòa ông Th đã xác nhận và chưa ra phương án sửa sai. Ông Th tuy không muốn ly hôn với vợ nhưng không có cách cải thiện tình cảm vợ chồng với bà Tr và hiện bà Tr không còn tình cảm với ông Th, kiên quyết ly hôn với ông Th nên đề nghị chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà Tr.

Đối với con chung là cháu Trần Ngọc T, cháu T còn nhỏ, cần được chăm sóc nuôi dưỡng từ mẹ và theo quy định pháp luật “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi…” . Do đó, có căn cứ đề nghị chấp nhận việc nuôi con của bà Tr.

Đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh Tr có đơn xin ly hôn với ông Trần Công Th và yêu cầu được nuôi con nên quan hệ pháp luật trong vụ án là ly hôn, tranh chấp nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trần Công Th có nơi cư trú tại ấp T, xã Th, huyện H, tỉnh Long An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Thanh Tr và ông Trần Công Th xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện H, tỉnh Long An nên đây là hôn nhân hợp pháp nên áp dụng luật Hôn nhân và gia đình để xem xét giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần để tạo điều kiện cho hai bên hàn gắn tình cảm với nhau. Tại bản tự khai ông Th cho rằng ông đã sửa sai trong việc mâu thuẫn giữa vợ chồng nên mong Tòa án sẽ hòa giải giúp vợ chồng được hạnh phúc nhưng ông Th không tham gia phiên hòa giải nên thể hiện sự mặt kệ hậu quả xảy ra và không có thiện chí vợ chồng đoàn tụ.

Tại phiên tòa, ông Th cho rằng đang sửa sai nhưng không đưa ra phương án để cải thiện tình cảm vợ chồng còn bà Tr cương quyết xin ly hôn vì cho rằng tình cảm vợ chồng không còn. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Tr và ông Th là có thật và thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh Tr, lời đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh Tr và ông Trần Công Th có con chung tên Trần Ngọc T (nữ) sinh ngày 09/04/2019 hiện đang sống chung với bà Tr, tính đến thời điểm xét xử cháu T được 10 tháng 18 ngày tuổi nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Nên ông Th yêu cầu được nuôi con chung không được chấp nhận. Bà Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về tài sản, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh Tr và ông Trần Công Th xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh Tr phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh Tr về việc xin ly hôn với ông Trần Công Th.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh Tr được ly hôn với ông Trần Công Th.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc T (nữ) sinh ngày 09/04/2019 cho bà Nguyễn Thị Thanh Tr tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Trần Công Th không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh Tr phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0004700 ngày 13/01/2020 sang tiền án phí.

Báo cho các đương sự được biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ