- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Hôn nhân và gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HNGĐ - ST Ngày: 17/02/2020 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Trang
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Lê Thụy
2. Ông Dương Khắc Hùng
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Dung - Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Đắc Quốc Tuân - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện T.
Ngày 17 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 428/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị X, sinh năm 1985
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: dân phố D, khu phố M, thị trấn R, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
2/ Bị đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1978
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: dân phố D, khu phố M, thị trấn R, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Đỗ Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Võ Văn Đ tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2006 nhưng đến ngày 12/5/2011 mới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn R theo Giấy chứng nhận kết hôn, số: 117, quyển số: 01/2011. Trong cuộc sống chung, vợ chồng sống không có hạnh phúc nguyên nhân ông Đ thường xuyên hành hung đánh đập bà, gần đây ông Đ nghe lời vu khống của người phụ nữ cùng xóm nói bà ngoại tình với người đàn ông khác nên ông Đ đánh đập bà rất dã man, ông Đ cầm hung khí đi kiếm và đòi giết bà nên bà phải lẫn tránh nhiều ngày mới dám về nhà. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2019 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến nhau.
Khi nộp đơn tại Tòa án nhân dân huyện T, bà có liên hệ với ông Võ Văn Đ về việc ly hôn tại Tòa án nhưng ông Đ hiện nay đang lao động biển tại Phú Yên không đồng ý về để cùng bà giải quyết vụ kiện ly hôn.
Nay bà xác định vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Văn Đ.
Về con chung: bà và ông Đ có có 02 con chung là Võ Thị Hồng H, sinh ngày 12/3/2009 và Võ Thị Mộng K, sinh ngày 24/3/2013; hiện nay các cháu H, cháu K đang được bà chăm sóc, nuôi dưỡng nên bà X được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục các con cho đến khi trưởng thành và bà không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và nợ chung.
Đối với bị đơn ông Võ Văn Đ:
Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: dân phố D, khu phố M, thị trấn R, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật đã quy định nhưng ông Đ vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện ly hôn, tại phiên tòa hôm nay ông Đ tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa, vị Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến về việc kiểm sát tuân theo pháp luật: các bước của quá trình chuẩn bị xét xử, việc thu thập chứng cứ và trình tự thủ tục tại phiên tòa của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà Đỗ Thị X đối với ông Võ Văn Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1978 có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: dân phố D, khu phố M, thị trấn R, huyện T, tỉnh Bình Thuận và yêu cầu khởi kiện X ly hôn của bà Đỗ Thị X thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án đã triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn ông Võ Văn Đ nhưng tại phiên tòa hôm nay, ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị X, HĐXX nhận thấy: quan hệ hôn nhân giữa bà Đỗ Thị X và ông Võ Văn Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn R theo Giấy chứng nhận kết hôn, số: 117, quyển số: 01/2011, ngày 12/5/2011 nên là hôn nhân hợp pháp, bà X có đơn X ly hôn nên áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, lời trình bày của bà X cho thấy đời sống chung của bà X, ông Đ không hạnh phúc do ông Võ Văn Đ thường xuyên hành hung đánh đập bà, gần đây ông Đ nghe lời vu khống của người phụ nữ cùng xóm nói bà ngoại tình với người đàn ông khác nên ông Đ đánh đập bà rất dã man, ông Đ cầm hung khí đi kiếm và đòi giết bà nên bà phải lẫn tránh nhiều ngày mới dám về nhà. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2019 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến nhau, điều đó chứng tỏ ông Đ đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, vi phạm về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
HĐXX xét thấy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa hai đương sự đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về con chung: bà và ông Đ có 02 con chung là Võ Thị Hồng H, sinh ngày 12/3/2009 và Võ Thị Mộng K, sinh ngày 24/3/2013; hiện nay các cháu H, K đang ở với bà, bà yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
HĐXX xét thấy các cháu H, K ở với bà X từ khi vợ chồng bà sống ly thân từ tháng 03 năm 2019 cho đến nay, bà X đã nuôi dưỡng và giáo dục các con đảm bảo các điều kiện phát triển, hơn nữa nguyện vọng của cháu H X được tiếp tục sống cùng mẹ nên giao cháu H, K cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục các con cho đến khi trưởng thành là phù hợp; bà X không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà Đỗ Thị X phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo luật định về việc giải quyết ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
- Về hôn nhân: bà Đỗ Thị X được ly hôn ông Võ Văn Đ.
- Về con chung: Giao các cháu Võ Thị Hồng H, sinh ngày 12/3/2009 và Võ Thị Mộng K, sinh ngày 24/3/2013 cho bà Đỗ Thị X tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
Bà X không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Bà X không được ngăn cản ông Đ việc chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về tài sản và nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Đỗ Thị X phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, bà X đã nộp tại biên lai thu số: 0029577, ngày 05/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, bà Đỗ Thị X đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo của bà Đỗ Thị X là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/02/2020), ông Võ Văn Đ là 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND (Tỉnh - Huyện); - TAND tỉnh Bình Thuận; - Chi cục THADS huyện T; - UBND TT. R; - Lưu hồ sơ. HỘI THẨM NHÂN DÂN Ngô Anh Tuấn - Trần Thị Ngọc Linh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Trang THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Trang |