- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Phương - Nguyễn Phú Kiệt"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Ngọc P và ông Nguyễn Phú K là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST Ngày: 25-02-2020 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Dá.
2. Ông Nguyễn Công Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Dương Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: số 188/2019/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1973 (có mặt).
HKTT: Ấp A, thị trấn P, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
Chổ ở: Số B, đường C, Ấp A, thị trấn P, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phú K, sinh năm 1972 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, thị trấn P, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/11/2019 và tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc P trình bày như sau:
Bà P và ông K tự nguyện chung sống với nhau từ khoảng năm 1993 - 1994, không có đăng ký kết hôn và có 02 con chung tên Nguyễn Phú C, sinh ngày 03/5/1995 và Nguyễn Ngọc Phương A, sinh ngày 24/11/2001. Đến khoảng tháng 5/2018, giữa bà và ông K phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cải do bất đồng trong quan điểm sống, đời sống chung không còn hạnh phúc nên đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2019. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K. Về con chung đã trưởng thành, tài sản chung và nợ chung không có, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Phú K trình bày:
Ông thống nhất nội dung trình bày của bà P là giữa ông và bà P chung sống từ khoảng năm 1993 - 1994, có 02 người con chung là Nguyễn Phú C và Nguyễn Ngọc Phương A đã trưởng thành; các vấn đề về tài sản chung, nợ chung không có. Tôi thống nhất ly hôn, các vấn đề về con chung, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên nhận định theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì mối quan hệ của bà P và ông K là nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P, tuyên không công nhận quan hệ giữa bà P và ông K là vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà P khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại ấp A, thị trấn P, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết là đúng theo qui định tại Khoản 1 Điều 28; 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Theo bà P và ông K trình bày thì hôn nhân của hai người được xác lập dựa trên cơ sở gia đình tổ chức lễ cưới rồi về chung sống với nhau từ khoảng năm 1993 – 1994, không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau thời gian dài chung sống, đến khoảng năm 2019 giữa các đương sự không còn tìm được tiếng nói chung và thường xuyên cự cải làm cho đời sống chung không hạnh phúc. Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà P và ông K, theo kết quả trả lời tại Công văn số 93/UBND ngày 06/01/2020 của Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thì các đương sự không đăng ký kết hôn nên có cơ sở xác định trong quá trình sống chung bà P và ông K không tiến hành đăng ký kết hôn và cũng không đăng ký kết hôn lại theo hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ- QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000. Nay bà P yêu cầu xin hôn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; …”. Khoản 1 Điều 14 Luật này quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Như vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các quy định nêu trên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà P và ông K là vợ chồng.
Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc P phải chịu theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Ngọc P và ông Nguyễn Phú K là vợ chồng.
- Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai thu số 0009857 ngày 06/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, bà P đã nộp xong án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị; - UBND thị trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thanh Mai |