vanban.org

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Lệ H.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Lệ H và anh Lê Quốc C. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Hằng N, sinh ngày 25/8/2005 cho chị Phạm Thị Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Lệ H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 31/3/2020
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Ái và ông Phan Quang Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân – Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 241/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 2 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Lệ H, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố S, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Anh Lê Quốc C, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố S, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị Lệ H trình bày:

Chị và anh Lê Quốc C tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2004, đến năm 2009 đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian sống chung với nhau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung nên sống không hạnh phúc. Từ năm 2014 cho đến nay vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về con chung: Trong quá trình sống chung chị và anh C có 01 con chung là Lê Thị Hằng N, sinh ngày 25/8/2005, khi ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lê Quốc C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác nhưng anh C không đến Tòa án để làm việc, tham dự phiên tòa cũng như cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đã tiến hành thụ lý, chuẩn bị xét xử và xét xử vụ án đúng trình tự thủ tục luật định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác, nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành theo quy định.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định chị Phạm Thị Lệ H và anh Lê Quốc C tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2004, đến năm 2009 đã đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian sống chung thì anh chị có nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, chị H và anh C đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau, hiện nay chị H không còn sống chung với anh C nữa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H; về con chung giao cháu Lê Thị Hằng N, sinh ngày 25/8/2005 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung chị H không yêu cầu nên không đề nghị xem xét; về án phí, đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: HĐXX thấy rằng đây là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án anh Lê Quốc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, chị H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo quy định.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Thị Lệ H và anh Lê Quốc C tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2004, đến năm 2009 đã đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận đúng theo quy định nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì trong cuộc sống chung vợ chồng giữa chị H và anh C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và anh C không quan tâm, chăm sóc cho vợ, con; từ năm 2014 cho đến nay, chị H và anh C không còn chung sống với nhau, không quan tâm gì đến nhau nữa. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc chung trong gia đình”. Tại Biên bản xác minh ngày 21/02/2020 thể hiện cuộc sống chung giữa chị H và anh C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, từ năm 2014 cho đến nay, chị H đã bỏ đi khỏi địa phương và sống ly thân với anh Lê Quốc C.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Quốc C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh C không cung cấp các tài liệu, chứng cứ; không đến Tòa án theo giấy triệu tập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; cũng như không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng; như vậy, anh C đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Chị H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H .

Về con chung: Chị H và anh C có 01 con chung là Lê Thị Hằng N, sinh ngày 25/8/2005, khi ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay chị đang làm Thanh Long, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 6.000.000đ – 7.000.000đ nên đủ khả năng để nuôi con và từ trước cho đến nay anh C không quan tâm, chăm sóc con cái. Từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa thì chị là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu N. Quá trình giải quyết vụ án anh C không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình về việc nuôi con. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/2/2020, cháu Lê Thị Hằng N đã trình bày nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu của chị Phạm Thị Lệ H và nguyện vọng của cháu N, giao cháu Lê Thị Hằng N, sinh ngày 25/8/2005 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Lệ H.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Lệ H và anh Lê Quốc C.

- Về con chung: Giao cháu Lê Thị Hằng N, sinh ngày 25/8/2005 cho chị Phạm Thị Lệ H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Lê Quốc C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Lệ H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0029097 ngày 17/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

Án xử công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ