vanban.org

Bản án 02/2020/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử:!1.!Về!quan!hệ!hôn!nhân:!!

Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D được ly hôn; !Về!con!chung.!! Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Hảo- NGuyễn Văn Dũng"
  • Tòa quyết gì? Xử:!1.!Về!quan!hệ!hôn!nhân:!!
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HNGĐ - ST
Ngày 12/02/2020
(V/v!Tranh!chấp!về!hôn!nhân!và!gia!đình)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N

Với!thành!phần!hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Ông Hà Thiện Thành

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Phong và ông Đinh Công Hiến

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn V, tØnh N tham gia phiªn toµ: Bµ Hoàng Thị Thu Lan - KiÓm s¸t viªn

Ngày 12 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 83/2019/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16/01/2020 giữa các đương sự:

Nguyªn ®¬n: Chị Đỗ Thị H, sinh n¨m 1987; địa chỉ xóm 3, xã G, huyện V, tỉnh N; Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

BÞ ®¬n: Anh Nguyễn Văn D, sinh n¨m 1982; địa chỉ xóm 3, xã G, huyện V, tỉnh N; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 02 tháng 7 năm 2019, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày: Giữa chị Đỗ Thị H và bị đơn là anh Nguyễn Văn D, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 12 năm 2008, tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N. Sau khi kết hôn hai người chung sống cùng nhau tại xóm 3, xã G, huyện V, tỉnh N. Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D chung sống hoà thuận, hạnh phúc được 8 năm thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do tính tình không hợp, anh D không tu trí làm ăn, thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi, đánh nhau, không quan hệ với nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả, hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2019 cho tới nay. Chị H thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị H đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Về con chung chị Đỗ Thị H trình bày: Vợ chồng chị có ba con chung cháu lớn là Nguyễn Mai P, sinh ngày 11/8/2009; cháu thứ hai là Nguyễn Mai A, sinh ngày 01/10/2013; cháu thứ ba là Nguyễn Minh A, sinh ngày 06/02/2018. Từ khi ly thân anh D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Mai A, còn chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Mai P và cháu Nguyễn Minh A. Nếu được Toà án chấp nhận cho ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao hai con chung là Nguyễn Mai P và Nguyễn Minh A cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; còn anh D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Mai A, không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về quan hệ tài sản và công nợ chung: Chị Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Nguyễn Văn D trình bày: Anh đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn về việc chị H xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn. Do vậy, anh D không có quan điểm về con chung.

T¹i phiªn toµ vÞ ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Gia ViÔn, ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt Tè tông d©n sù trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö, Thư ký phiên tòa; viÖc chÊp hµnh ph¸p luËt cña ng­êi tham gia tè tông d©n sù, kÓ tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn tr­íc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n đều tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu 147; khoản 1, ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227; khoản 1, kho¶n 3 §iÒu 228 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

- Xử: Cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn D;

- Về con chung. Giao cho chị Đỗ Thị H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Mai P, sinh ngày 11/8/2009 và cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 06/02/2018, cho tới khi hai cháu đủ 18 tuổi;

Giao cho anh Nguyễn Văn D tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Mai A, sinh ngày 01/10/2013, cho tới khi cháu Nguyễn Mai A đủ 18 tuổi;

Anh D và chị H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Đỗ Thị H có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn D; anh Nguyễn Văn D có nơi cư trú tại xã G, huyện V, tỉnh N, đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn chị Đỗ Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn D đã được Toà án nhân dân huyện V triệu tập hợp lệ đến phiên Toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N vào ngày 08 tháng 12 năm 2008. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ, sau khi kết hôn hai người sống hoà thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, kinh tế gia đình khó khăn, anh D thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến vợ con, khi được chị H và gia đình khuyên bảo nhưng anh D không nghe, dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, đánh nhau. Theo thời gian, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, nặng nề, thực tế vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 1 năm 2019 đến nay, cũng từ đó hai người không quan tâm đến nhau, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Việc anh D xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, không đồng ý ly hôn để vợ chồng về đoàn tụ, nhưng lại không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Không tham gia các buổi hòa giải do Tòa án tổ chức, các ngày xét xử đều vắng mặt không có lí do. Như vậy, việc anh D không đồng ý li hôn chỉ nhằm mục đích kéo dài thời gian, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên không có cơ sở chấp nhận. Điều này phù hợp với đơn xin xác định tình trạng hôn nhân ngày 03/10/2019 do chị H giao nộp cho Tòa án, có xác nhận của chi hội phụ nữ, trưởng xóm 3 và UBND xã G. Điều đó chứng tỏ quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị H.

Về quan hệ con chung: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D có ba con chung, các cháu là Nguyễn Mai P, sinh ngày 11/8/2009; Nguyễn Mai A, sinh ngày 01/10/2013; Nguyễn Minh A, sinh ngày 06/02/2018. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H và anh D có ba con chung cháu P đã trên bẩy tuổi, cháu A và cháu A đều dưới bẩy tuổi, chị H và anh D và đều là người lao động tự do, có thu nhập, nhưng nếu giao cả ba cháu cho một người nuôi dưỡng thì sẽ là gánh nặng về kinh tế. Trong thời gian trước đây và hiện nay cháu Nguyễn Mai P và cháu Nguyễn Minh A do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, còn cháu Nguyễn Mai A do anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, đều đảm bảo tốt về mọi mặt. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Mai P và cháu Nguyễn Minh A cho chị Đỗ Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; cần giao cháu Nguyễn Mai A cho anh Nguyễn Văn D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục điều này phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Mai P và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Hai bên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị Đỗ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản chung, công nợ chung. Vì vậy, vấn đề tài sản chung và công nợ chung, Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu 147; khoản 1, ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227; khoản 1, kho¶n 3 §iÒu 228 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:!1.!Về!quan!hệ!hôn!nhân:!!

Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D được ly hôn;

2.!Về!con!chung.!!

Giao cho chị Đỗ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Mai P, sinh ngày 11/8/2009 và cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 06/02/2018;

Giao cho anh Nguyễn Văn D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Mai A, sinh ngày 01/10/2013;

Thời hạn nuôi con tính từ ngày 12/02/2020 cho tới khi mỗi con chung đủ 18 tuổi.

Anh D và chị H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

!

3.!Về!án!phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Được khấu trừ 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên lai số AA/2013/0001267 ngày 08/7/2019.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

NƠI NHẬN

Cỡ chữ