vanban.org

Bản án 02/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá Vương S.

Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng : Giao cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 08/8/2013 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Bá Vương S không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về án phí: Chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá Vương S.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 20/5/2020
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯƠC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyện

Bà Lê Thị Hường

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà : Bà Phạm Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện VKSND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà : Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2020/TLST – HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2020 về „„Ly hôn, tranh chấp nuôi con‟‟ theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXX- ST ngày 17 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự :

1. Nguyên đơn : Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (Có mặt)

Địa chỉ : Khu phố Trung M, phường Trường S, thành phố Sầm S, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn : Anh Nguyễn Bá Vương S, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ : Làng Viên Kh, xã Đông Kh, huyện Đông S, tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang chấp hành án tại Trại Thanh Lâm - Tổng cục VIII - Bộ Công an.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Trong đơn khởi kiện ngày 24/12/2019 và bản tự khai ngày 29/01/2020 chị Nguyễn Thị Huyền trình bày :

Về hôn nhân : Chị và anh Nguyễn Bá Vương S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và tổ chức đám cưới vào ngày 31/3/2013 nhưng đến ngày 22/4/2013 mới đến UBND phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa để làm thủ tục đăng ký kết hôn và được UBND phường Trường Sơn cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S không chịu tu chí làm ăn, nghiện ma túy nên vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau, sống không có hạnh phúc, chị và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh S không nghe mà còn đánh đập chị nên từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 12/2014 chị làm đơn xin ly hôn anh S, Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn hòa giải để vợ chồng đoàn tụ và chị đã rút đơn khởi kiện, Tòa án huyện Đông Sơn đã đình chỉ vụ án. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn anh S lại tiếp tục chơi bời, nghiện ma túy, cuộc sống chung của vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Đến tháng 6/2018 chị không thể chịu đựng được nữa nên chị bế con về nhà bố mẹ đẻ ở tại khu phố Trung M, phường Trường S, thành phố Sầm S, tỉnh Thanh Hóa ở và từ đó chị và anh S sống ly thân nhau cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Ngày 31/8/2019 anh S bị bắt về hành vi Lạm dụng chiếm đoạt tài sản và đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử 30 tháng tù. Chị thấy tình cảm giữa chị và anh S thật sự không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S.

Về con chung : Chị và anh S có 01 con chung là Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 08/8/2013 từ trước đến nay chị đang nuôi con nay ly hôn chị yêu cầu tiếp tục được nuôi con và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ : Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh S tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật,

Về hôn nhân : Tại bản tự khai ngày 20/02/2020 anh S thống nhất với ý kiến chị H về thời gian và điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, anh cũng thừa nhận vợ chồng sống ly thân nhau đã gần hai năm, tình cảm vợ chồng không còn, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh S cùng đồng ý.

Về con chung : Anh S cũng thống nhất vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 08/8/2013 giao cháu L cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung,

Về tài sản : Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay anh S đang đi chấp hành án, nên anh đã có đơn đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân nhân, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh S.

Tại biên bản xác minh ngày 14/2/2020 chính quyền UBND xã Đông Kh, huyện Đông S, tỉnh Thanh Hóa xác nhận. Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Bá Vương S sau khi kết hôn anh S và chị H sinh sống tại địa phương và sinh được một con chung cháu Nguyễn Thị Khánh L, đến năm 2013 anh chị phát sinh mâu thuẫn, cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm rõ. Đến khoảng tháng 6 năm 2018 chị H bế con về nhà bố mẹ đẻ ở tại thành phố Sầm S. Tài sản và nợ thì chính quyền địa phương không biết. Ngày 10/9/2019 anh Nguyễn Bá Vương S đã bị bắt gian tại Trại Tạm giam Công an tỉnh thanh Hóa. Nay chị H xin ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát : Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 ; Điều 81 ; 82 ; 83 Luật hôn nhân gia đình.

Về hôn nhân : Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá Vương S.

Về con chung : Giao cháu Nguyễn Thị Khánh L cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung, vì hiện nay anh S đang cải tạo tại Trại Thanh Lâm - Tổng cục VIII - Bộ Công an nên không có, thời gian, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản, công nợ : Anh S, chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về tố tụng : Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc hôn nhân gia đình của chị và anh Nguyễn Bá Vương S, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28 ; điểm a khoản 1 Điều 35 ; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh S có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân : Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Bá Vương S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 22/4/2013 tại UBND phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa và được UBND phường Trường Sơn cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Bá Vương S là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Bá Vương S chung sống hạnh phúc được khoảng một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do anh S không chịu tu chí làm ăn, nghiện ma túy, thường xuyên vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị và gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng anh S không nghe mà còng đánh đập chị nên từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài được. Chị đã cố gắng để đoàn tụ gia đình nhưng anh S không thay đổi mà còn dùng vũ lực với chị. Đến nay chị xét thấy tình cảm giữa chị và anh S không còn nên chị yêu cầu ly hôn, anh S cũng đồng ý ly hôn, nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị H và anh S được ly hôn nhau.

[3] Về con chung : Chị H và anh S có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 08/8/2013. Từ trước đến nay chị huyền đang trực tiếp nuôi cháu. Vì hiện nay anh S đang đi chấp hành án nên không có điều kiện chăm sóc và cấp dưỡng nuôi con. Nên HĐXX chấp nhận sự thống nhất ý kiến nuôi con chung của chị H và anh S. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.

[4] Về tài sản : Chị H, anh S không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí : Chị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ : Điều 56, Điều 81, 82 ; 83 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự ; Điểm a, khoản 1 Điều 24 ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử:

- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Bá Vương S.

- Về con chung, nuôi con và cấp dưỡng : Giao cháu Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 08/8/2013 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Bá Vương S không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2016/0006611 ngày 08/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo : Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ