vanban.org

Bản án 02/2020/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L với ông Ngô Sơn C.

Về con chung: giao 02 con chung Ngô Thanh H (nam) sinh ngày 28/6/2009 và Ngô Thành Đ (nam) sinh ngày 11/9/2014 cho bà L nuôi dưỡng. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông C, không ai có quyền ngăn cản.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim L - Ngô Sơn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L với ông Ngô Sơn C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN P
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 02/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2020
V/v: Tranh chấp Ly hôn,

nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Liêng Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Tuyết

2. Bà Tô Phạm Tuyết Nghiêm

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên, là thư ký Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ, xét xử công khai vụ án thụ lý số 267/2019/TLST-HNGĐ ngày 18/9/2019 về việc Tranh chấp Ly hôn, nuôi con

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04a/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21/01/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1992

Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ

Chỗ ở: ấp M, xã K, huyện P, thành phố Cần Thơ – Có mặt.

Bị đơn: Ông Ngô Sơn C, sinh năm 1989

Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: bà và ông Ngô Sơn C tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ ngày 29/3/2010. Thời gian đầu sống hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ năm 2014 do ông C chỉ biết nhậu nhẹt, không chăm lo cho vợ con, bà đã cố gắng khuyên nhưng ông C không sửa đổi. Bà và ông C ly thân từ cuối năm 2016 đến nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn liên hệ tình cảm với nhau. Vì vậy, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.

- 1 -

Về con chung: có 02 con chung là Ngô Thanh H (nam) sinh ngày 28/6/2009 và Ngô Thành Đ (nam) sinh ngày 11/9/2014. Bà yêu cầu nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Ngô Sơn C tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ vào ngày 29/3/2010 là hôn nhân hợp pháp. Ngày 12/10/2016, bà L có đơn yêu cầu ly hôn với ông C, ông C đăng ký thường trú tại ấp H, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P nên Tòa án đã thụ lý vụ án theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Ngô Sơn C tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 04/11/2019 và 04/12/2019 nhưng ông C đều vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Vụ án được đưa ra xét xử. Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập cho ông C tham gia phiên tòa vào ngày 12/02/2020 nhưng ông C vẫn vắng mặt không rõ lý do, nay Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C.

[3] Theo lời trình bày của bà L thì quan hệ hôn nhân giữa bà và ông C phát sinh mâu thuẫn do ông C không chăm lo cho gia đình, thường xuyên uống rượu và đã ly thân từ cuối năm 2016 đến nay. Xét, thời gian ly thân tương đối dài nhưng đôi bên vẫn không có biện pháp khắc phục được mâu thuẫn để tiếp tục cuộc sống chung, điều này cho thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân là vợ chồng có tình cảm yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.

[4] Về con chung, bà L và ông C có hai người con chung là Ngô Thanh H (nam) sinh ngày 28/6/2009 và Ngô Thành Đ (nam) sinh ngày 11/9/2014, bà L yêu cầu nuôi cả 02 con chung, cháu H cũng có nguyện vọng được sống với mẹ, hiện 02 cháu H và Đ đang sống với bà L nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi cả 02 con chung của bà L. Nguyên đơn không có yêu cầu về tiền cấp dưỡng nuôi con. Nguyên đơn yêu cầu ông C không được quyền thăm con là không có cơ sở vì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại

- 2 -

khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; mặt khác, ông C cũng không thuộc trường hợp bị hạn chế quyền của cha đối với con chưa thành niên.

[5] Về tài sản chung và nợ chung, đương sự không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

[6] Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L với ông Ngô Sơn C.

- Về con chung: giao 02 con chung Ngô Thanh H (nam) sinh ngày 28/6/2009 và Ngô Thành Đ (nam) sinh ngày 11/9/2014 cho bà L nuôi dưỡng. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông C, không ai có quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Kim L nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số AA/2016/001386 ngày 18/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, thành phố Cần Thơ thành án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- 3 -

Cỡ chữ