vanban.org

Bản án 02/2019/KDTM-ST — Tranh chấp về đại diện, đại lý

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Công ty P (do anh Nguyễn Văn Thanh đại diện).

Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Ông Lương Văn B phải chịu 4.430.000đ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về đại diện, đại lý — án kinh doanh thương mại — "Hợp đồng đại lý"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Công ty P (do anh Nguyễn Văn Thanh đại diện).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 168 Luật thương mại; Điều 176 Luật thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 02/2019/KDTM-ST
Ngày 29/5/2019.
Về việc: “Tranh chấp về Hợp đồng
đại lý”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Quốc Hùng

2. Bà Lê Thị Thường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham dự phiên

tòa: Không tham gia.

Vào ngày 29 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện kinh doanh thương mại thụ lý số 03/2019/TLST-KDTM, ngày 24 tháng 01 năm 2019; Về việc: "Tranh chấp về Hợp đồng đại lý", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2019/QĐST-KDTM ngày 03/5/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty P;

Trụ sở: ấp 5, xã Đ, huyện H, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: T.

2. Bị đơn: Ông Lương Văn B, sinh năm 1973;

Nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện TS, An Giang.

(Vắng mặt bị đơn ông Lương Văn B; Đã tống đạt hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty P ngày 02/01/2019 và lời khai của anh Nguyễn Văn Thanh (đại diện theo ủy quyền) trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau: Công ty P (viết tắt là Công ty HP) có ký hợp đồng với ông Lương Văn B số 20/HĐĐL-KD ngày 10/5/2016, nội dung là ông B làm đại lý và nhận hàng hóa của Công ty bán lại cho nông dân để kiếm lợi nhuận và hưởng phần trăm hoa hồng chiết khấu. Từ ngày 30/10/2017 đến ngày 03/01/2019 thì ông Lương Văn B đã nhận hàng và còn thiếu lại tiền hàng của Công ty tổng cộng số tiền là 88.620.224đ và đến nay vẫn chưa thanh toán.

Nay anh Nguyễn Văn Thanh đại diện Công ty P yêu cầu ông Lương Văn B có trách nhiệm thanh toán hoàn tất số tiền nợ mua hàng cho Công ty HP là 88.620.224đ, không yêu cầu tính lãi.

* Về phía bị đơn ông Lương Văn B thì: Tòa án đã nhiều lần gửi Thông báo, giấy mời đến Tòa án để tạo điều kiện cho gặp phía đại diện nguyên đơn trong vụ án để hòa giải và đối chiếu các khoản nợ nhưng tất cả các lần ông Lương Văn B đều vắng mặt không lý do. Qua thu thập chứng cứ xác định được rằng ông Lương Văn B có hộ khẩu tại ấp Phú Hữu, xã Định Mỹ, huyện Thoại Sơn, An Giang và hiện tại vẫn có mặt tại địa phương, các giấy tờ của Tòa án tống đạt thông qua Thừa phát lại thì bị đơn đều có ký nhận nhưng vẫn không có mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng đại lý, các bên có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nên tranh chấp thuộc khoản 1 Điều 30, căn cứ Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, phía bị đơn ông Lương Văn B vắng mặt không lý do nhưng đã tống đạt hợp lệ, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.

Về nội dung:

Theo hợp đồng số 20/HĐĐL-KD ngày 10/5/2016 đã thể hiện Công ty P ký kết với ông Lương Văn B (Cửa hàng Lương Văn B) để mua bán sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón, nội dung và hình thức như phía đại diện công ty trình bày, đồng thời cũng tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/11/2018 cũng đã thể hiện ông Lương Văn B vẫn còn thiếu nợ của Công ty HP số tiền 88.620.224đ; Theo đại diện phía Công ty HP xác định đến nay ông Lương Văn B vẫn chưa thanh toán nên yêu cầu phải trả số tiền nêu trên. Trong khi đó, từ khi Tòa án thụ lý vụ kiện đến nay ông Lương Văn B không có ý kiến phản bác về yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào khách quan để chứng minh đã thanh toán xong số nợ nêu trên, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên buộc ông Lương Văn B có nghĩa vụ trả số tiền nợ còn lại là 88.620.224đ.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, đại diện phía nguyên đơn không yêu cầu tính lãi đối với khoản nợ chậm thanh toán đối với ông Lương Văn B, đây là sự tự nguyện của phía nguyên đơn và phù hợp theo quy định của pháp luật, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do ông Lương Văn B bị buộc trả nợ cho Công ty HP nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 168, Điều 176 của Luật thương mại năm 2005; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Xử:

+ Chấp nhận yêu cầu của Công ty P (do anh Nguyễn Văn Thanh đại diện). Buộc ông Lương Văn B có trách nhiệm trả cho Công ty P số tiền nợ hàng hóa tổng cộng là 88.620.224đ (Tám mươi tám triệu sáu trăm hai mươi ngàn hai trăm hai mươi bốn đồng).

- Về án phí, lệ phí sơ thẩm:

+ Ông Lương Văn B phải chịu 4.430.000đ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

+ Công ty P không phải chịu án phí nên được hoàn lại 2.200.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số 0014930 ngày 24/01/2019 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, An Giang.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ