- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Ph.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/KDTM-ST Ngày: 15-10-2019 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Quỳnh và ông Phạm Xuân Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hiền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 05/2019/TLST-KDTM, ngày 13 tháng 08 năm 2019 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2019/QĐST-KDTM, ngày 30 tháng 09 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph;
Địa chỉ trụ sở: 35 Hàng Vôi, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo theo ủy quyền lại: Ông Cao Văn C – Chức vụ: giám đốc phòng giao dịch B, địa chỉ: xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn:
Ông Nguyễn Ngọc Đ – Đại diện hộ gia đình kinh doanh cá thể.
Nơi cư trú: Xóm S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Ph, nơi cư trú: Xóm S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 06 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Ph trình bày:
Ngày 27 tháng 07 năm 2016, khách hàng ông Nguyễn Ngọc Đ, bà Nguyễn Thị Ph và Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Ph – Chi nhánh Ph – Phòng giao dịch B ký hợp đồng tín dụng với nội dung như sau:
Số hợp đồng tín dụng hạn mức 01/2016/5851801/HĐTD ngày 27 tháng 07 năm 2016, số tiền vay 400.000.000 đồng ( bốn trăm triệu đồng), thời hạn vay 11 tháng, ngày đến hạn 27 tháng 06 năm 2017.
Tài sản bảo đảm tiền vay: Ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị Ph thế chấp tài sản trên thửa đất và quyền sử dụng thửa đất số 1014, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất: xóm S, xã Đ , huyện Đ, tỉnh Nghệ An, diện tích 1448m2, mục đích sử dụng: đất ở do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị Ph, tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ à Ph – Chi nhánh Ph – Phòng giao dịch B theo hợp đồng thế chấp bất động sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Trong quá thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Ngọc Đ đã trả tiền lãi đến ngày 28/11/2016 với số tiền 15.568.889 đồng, đến hạn thanh toán gốc, lãi vay ngày 27/06/2017 nhưng ông Nguyễn Ngọc Đ không thanh toán như cam kết trong hợp đồng tín dụng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng khách hàng vẫn không trả nợ. Do khách hàng ông Nguyễn Ngọc Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 27/06/2017 Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph – Chi nhánh Ph – Phòng giao dịch B đã chuyển toàn bộ số nợ vay sang nợ quá hạn.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị Ph yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để khách hàng trả nợ, tuy nhiên khách hàng vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Do đó yêu cầu ông Nguyễn Ngọc Đ :
- Phải trả cho Ngân hàng :
Nợ gốc 400.000.000 đồng.
Lãi suất trong hạn: Từ ngày 27/07/2016 đến ngày 27/12/2017 ( 153 ngày ) là 400.000.000 đồng x 9,2%/năm x 153/360 = 15.640.000 đồng.
Từ ngày 27/12/2016 đến ngày 27/06/2017 ( 182 ngày ) là 400.000.000 đồng x 10%/năm x 182/360 = 20.222.222 đồng.
Lãi suất quá hạn: Từ 27/06/2017 đến ngày 15/10/2019 ( 840 ngày) : 400.000.000 đồng x 15%/năm x 840/360 = 140.000.000 đồng.
Tiền lãi đã thanh toán là 15.568.889 đồng.
Tổng số tiền là: 400.000.000 đồng + 15.640.000 đồng + 20.222.222 đồng + 140.000.000 đồng – 15.568.889 đồng = 560.293.333đ (Năm trăm sáu mươi triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng)
Và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng.
-Trong trường hợp khách hàng ông Nguyễn Ngọc Đ không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph – Chi nhánh Ph – Phòng giao dịch B thì cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
-Trường hợp sau khi khách hàng ông Nguyễn Ngọc Đ, bà Nguyễn Thị Ph bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền vốn gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, án phí, lệ phí, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì khách hàng ông Nguyễn Ngọc Đ có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.
Tại bản tự khai ngày 19/09/2019, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ph trình bày:
Ngày 27/07/2016 Bà và chồng là ông Nguyễn Ngọc Đ, trú tại: xóm S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có vay của Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph – Chi nhánh Ph – Phòng giao dịch B số tiền 400.000.000 ( bốn trăm triệu) đồng, thời hạn vay là 11 tháng, lãi suất trong hạn 9,2%/năm. Vợ chồng Bà đã thế chấp tài sản trên thửa đất và quyền sử dụng thửa đất số 1014, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất: xóm S, xã Đ , huyện Đ, tỉnh Nghệ An, diện tích 1448m2, mục đích sử dụng: đất ở mang tên vợ chồng Bà.
Vợ chồng Bà đã trả tiền lãi cho Ngân hàng đến ngày 28/11/2016, còn tiền lãi từ ngày 29/11/2016 đến nay và tiền gốc vợ chồng Bà chưa thanh toán cho Ngân Hàng.
Nay Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph, Chi nhánh Ph, Phòng giao dịch B yêu cầu trả tiền gốc và lãi suất thì Bà có nguyện vọng xin được trả số tiền gốc, còn số tiền lãi thì đề nghị Ngân Hàng xem xét và giảm bớt cho Gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, công bố việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa và việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 30 BLTTDS; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 1, 2 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/10/2010; Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Điều 280, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 ; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ph có địa chỉ rõ ràng trong hợp đồng tín dụng. Đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đ, bà Ph đều vắng mặt phiên họp không có lý do.
Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 2 thì ông Đ, bà Ph vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành phiên họp và đã tống đạt kết quả phiên họp cho ông Đ, bà Ph.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông Đ, bà Ph nhưng ông Đ, bà Ph vắng mặt tại phiên tòa lần 2, không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Phòng giao dịch B có địa chỉ: xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Hai bên có kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp bất động sản tại Phòng giao dịch B. Trong Hai hợp đồng có thỏa thuận Tòa án giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân huyện Yên Thành. Thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết phù hợp với pháp luật nên Tòa án nhân dân huyện Yên Thành giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng thẩm quyền.
Về chứng cứ: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ph đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; kết quả phiên họp nhưng ông Đ, bà Ph không có ý kiến gì về tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp và không yêu cầu phản tố, yêu cầu Độc lập. Tòa án đã kiểm tra và chấp nhận các chứng cứ do Ngân hàng cung cấp là hợp pháp.
Về nội dung:
Ngày 27/07/2016, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và ph - Chi nhánh Ph - Phòng giao dịch B và vợ chồng ông Đ, bà Ph có ký kết hợp đồng tín dụng số 01/2016/5851801/HĐTD. Theo đó vợ chồng ông Đ, bà Ph đã vay số tiền 400.000.000, thời hạn trả nợ 27/06/2017, mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh, lãi suất trong hạn 9,2%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Để bảo đảm khoản nợ cho vay trên, ông Đ bà Ph thế chấp tài sản và quyền sử dụng đất thửa số 1014, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất: xóm 6, xã Đại Sơn , huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, diện tích 1448m2, mục đích sử dụng: đất ở, do Ủy ban nhân dân huyện Đô Lương cấp cho ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị Ph, tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph – Chi nhánh Ph – Phòng giao dịch B để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Hết thời hạn vay, ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và yêu cầu trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 15/10/2019, ông Đ còn nợ Ngân hàng tổng cộng 560.293.333 đồng (trong đó nợ gốc 400.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 113.626.666 đồng, lãi suất quá hạn 46.666.667 đồng)
Nay Ngân hàng yêu cầu ông Đ phải trả số tiền 560.293.333 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 01/2016/5851801/HĐTD ngày 27 tháng 07 năm 2016, từ ngày 16/10/2019 cho đến khi thanh toán xong số dư nợ gốc. Trường hợp ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Nếu thu hồi không đủ số tiền nợ và chi phí liên quan thì ông Đ phải tiếp tục trả số tiền còn thiếu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ph ( là vợ của ông Nguyễn Ngọc Đ) thống nhất ngày 27/07/2016 vợ chồng bà là ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị Ph, trú tại xóm S xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có vay của Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph – Chi nhánh Ph – Phòng giao dịch B số tiền 400.000.000 ( bốn trăm triệu) đồng, thời hạn vay là 11 tháng, lãi suất trong hạn 9,2%/năm. Vợ chồng bà đã thế chấp tài sản trên thửa đất và quyền sử dụng thửa đất số 1014, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất: xóm 6, xã Đại Sơn , huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, diện tích 1448m2, mục đích sử dụng: đất ở mang tên vợ chồng Bà.
Vợ chồng Bà đã trả tiền lãi cho Ngân hàng đến ngày 28/11/2016, tiền lãi từ ngày 29/11/2016 đến nay và tiền gốc vợ chồng Bà chưa thanh toán cho Ngân Hàng.
Nay Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph, Chi nhánh Ph, Phòng giao dịch B yêu cầu trả tiền gốc và lãi suất thì Bà xin trả tiền gốc, còn tiền lãi thì đề nghị Ngân Hàng xem xét, giảm bớt cho Bà.
Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng số 01/2016/5851801/HĐTD ngày 27/07/2016 và Hợp đồng thế chấp bất động sản đã được các bên ký kết trước công chứng viên Tăng Lam Hồng, Văn phòng Công chứng Thủy Nam; theo hợp đồng, Ngân hàng đã chuyển 400.000.000 đồng vào tài khoản ông Đ ngày 27/07/2016, sau đó ông Đ đã ủy nhiệm chi cho Ngân hàng 400.000.000 đồng để trả tiền mua trâu bò cho Đặng Xuân Th.
Ông Đ đã thanh toán tiền lãi của 400.000.000 đồng, lãi suất 9,2%/năm đến ngày 28/11/2016 với số tiền 15.568.889 đồng. Như vậy hợp đồng hợp pháp về cả nội dung, hình thức đã được các bên thực hiện cần được chấp nhận.
Theo Hợp đồng tín dụng, tiền lãi phải trả hàng tháng, tiền gốc trả vào ngày 27/06/2017 nhưng đến nay ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi suất hàng tháng từ ngày 29 tháng 11 năm 2016 là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Đ phải trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ và Ph số tiền tổng 560.293.333 đồng
Về án phí:
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 20.000.000 đồng + (560.293.333 đồng – 400.000.000 đồng) x 4% = 26.411.733 đồng.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 4; Điều 306 Luật Thương mại; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010; Điều 317, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 273; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Ph.
2.Buộc ông Nguyễn Ngọc Đ phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và ph số tiền 560.293.333đ (Năm trăm sáu mươi triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng). Trong đó:
-Tiền gốc 400.000.000 đ (Bốn trăm triệu đồng).
-Tiền lãi trong hạn: 113.626.666đ ( một trăm mười ba triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng)
-Tiền lãi quá hạn: 46.666.667đ ( Bốn mươi sáu triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng)
3. Xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật ông Nguyễn Ngọc Đ không trả hoặc trả không đủ tiền nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Ph thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và Ph có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm thửa đất số 1014, tờ bản đồ số 20, diện tích 1448 m2 tại xóm 6, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 259293 do Ủy ban nhân dân huyện Đô Lương cấp ngày 04/10/2013 mang tên Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Thị Ph.
Ông Nguyễn Ngọc Đ trả đủ tiền nợ trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và ph có nghĩa vụ trả lại thửa đất số 1014, tờ bản đồ số 20, diện tích 1448 m2 tại xóm 6, xã Đại Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (nếu đã nhận tài sản) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 259293 do Ủy ban nhân dân huyện Đô Lương cấp ngày 04/10/2013 mang tên Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Thị Ph.
3.Án phí:
Ông Nguyễn Ngọc Đ phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 26.411.733đ ( Hai mươi sáu triệu, bốn trăm mười một nghìn, bảy trăm ba mươi ba đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và ph được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.795.000đđ (( MMưườờii hhaaii ttrriiệệuu,, bbảảyy ttrrăămm cchhíínn mmưươơii llăămm nngghhììnn đđồồnngg)) theo biên lai thu tiền số 0000011 ngày 13 tháng 08 năm 2019 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Yên Thành.
4. Thi hành án và nghĩa vụ chậm thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Ngọc Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của tổng số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kì của Ngân hàng thì lãi suất mà ông Nguyễn Ngọc Đ phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS huyện Yên Thành; - TAND tỉnh Nghệ An; - Cơ quan thực hiện việc đăng kết hôn; -- Lưu hồ sơ vụ án; -- Lưu kết quả; - Đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký ) Phan Xuân Thọ |