- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội trộm cắp tài sản: Tuyên bố Lê Hoàng V phạm tội “Trộm
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HSST Ngày: 04/01/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Mỹ Hạnh
2. Bà Trịnh Thị Phương Châm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.
Ngày 04 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 12
năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 950/2018/QĐXXST-HS ngày
20 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Hoàng V, sinh ngày 27 tháng 6 năm 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh;
nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 160/4 Cô Giang, phường X, Quận Y, Thành
phố H; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ
học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; con ông Trần Văn H và bà Lê Thị Kim H; có vợ
Mai Thị Tuyết H và có 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không;
nhân thân: Ngày 23/12/2008 bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 01 năm 06
tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số: 223/HSST, ngày 22/5/2012 bị
Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”
theo Bản án số: 66/HSST; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/11/2018 tại nhà tạm
giữ Công an Quận 1. (có mặt)
Người bị hại: Ông Huỳnh Văn V, sinh năm: 1959
Nơi cư trú: Số 182/2A Đề Thám, phường X, Quận Y, Thành phố H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 06/6/2018, Lê Hoàng V đi bộ đến trước nhà số 182/2A
đường Đề Thám, phường X, Quận Y phát hiện 02 chiếc xe gắn máy dựng trước cửa nhà không có người trông coi. V nảy sinh ý định trộm cắp nên liền đi đến lén lút trộm cắp chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ biển số 59T1 – 893.84. Sau khi trộm được xe V đem gửi tại bãi giữ xe Công viên 23/9 thuộc phường Phạm X, Quận Y rồi về nhà ngủ. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày ông Huỳnh Văn V phát hiện xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ biển số 59T1 – 893.84 dựng trước cửa nhà số 182/2A đường Đề Thám, phường X, Quận Y bị mất nên ông V cùng gia đình đi tìm, khi đi qua bãi giữ xe Công viên 23/9, phường X, Quận Y phát hiện xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ biển số 59T1 – 893.84 trong bãi giữ xe nên ông V thông báo với nhân viên bãi giữ xe về vụ việc và đến công an phường X trình báo sự việc. Khoảng 14 giờ cùng ngày V đến bãi giữ xe để lấy xe, khi V điều khiển xe đến chỗ soát vé bị Công an phường X bắt giữ Vũ cùng vật chứng và đưa về Công an phường X, Quận 1 lập biên bản xử lý.
Tại cơ quan điều tra, Lê Hoàng V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
như đã nêu trên.
Theo bản kết luận số: 219/KL-HĐĐGTS ngày 24/7/2018 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận: chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha biển số: 59T1 – 893.84 trị giá 7.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSQ1 ngày 13/12/2018 của Viện kiểm sát nhân
dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Lê Hoàng V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh
tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, tài sản đã kịp thời thu hồi trả lại cho bị hại, thuộc trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
- Chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha biển số: 59T1 – 893.84, số
máy: HC12E7200629, số khung: 125XFY200581 đã trả lại cho bị hại ông V và
không có yêu cầu nào nên không xét.
- 01 đĩa DVD ghi hình Lê Hoàng V thực hiện hành vi phạm tội tiếp tục lưu
hồ sơ.
- 01 thẻ giữ xe máy ID card: 03160; 01 áo khoác tay dài màu xám; 01 áo
thun tay ngắn màu đỏ; 01 quần jean dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đỏ; 01 thẻ
giữ xe máy tại điểm giữ xe Sen Hồng; 01 thẻ giữ xe máy số 9097; 01 khóa cờ lê số
8-10; 01 chìa khóa xe màu đen cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Huawei số Imei 1: 862311033388503; số Imei
2: 862311033462860 thu giữ của bị cáo V không liên quan đến vụ án nên trả lại
cho bị cáo V, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng V đã khai nhận hành vi phạm tội như kết
luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời
sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời
khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài
liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên
bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận
định giá,… nên có căn cứ để kết luận, bị cáo Lê Hoàng V đã có hành vi lợi dụng sự
không để ý của ông Việt lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave
Alpha biển số: 59T1 – 893.84 của ông Việt. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết
luận bị cáo Lê Hoàng V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt
được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân
Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại và tại phiên tòa
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết
tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 7.000.000 đồng, bị cáo lại có nhân thân xấu đã 02 lần bị xét xử về cướp giật tài sản. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người lương thiện có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe kẻ khác góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội nhưng chưa
gây thiệt hại và tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình
sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án:
- Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha biển số: 59T1 –
893.84, số máy: HC12E7200629, số khung: 125XFY200581 đã trả lại cho bị hại ông V và không có yêu cầu nào nên không xét.
- Đối với 01 đĩa DVD ghi hình Lê Hoàng V thực hiện hành vi phạm tội
cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 thẻ giữ xe máy ID card: 03160; 01 áo khoác tay dài màu xám;
01 áo thun tay ngắn màu đỏ; 01 quần jean dài màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu đỏ; 01 thẻ giữ xe máy tại điểm giữ xe Sen Hồng; 01 thẻ giữ xe máy số 9097; 01 khóa cờ lê số 8-10; 01 chìa khóa xe màu đen cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Huawei số Imei 1: 862311033388503;
số Imei 2: 862311033462860 thu giữ của bị cáo V, xét không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo V, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án sau này.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2
Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội trộm cắp tài sản: Tuyên bố Lê Hoàng V phạm tội “Trộm
cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Lê Hoàng V
01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
02/11/2018.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD ghi hình Lê Hoàng V thực hiện hành
vi phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thẻ giữ xe máy ID card: 03160; 01 (một) áo
khoác tay dài màu xám; 01 (một) áo thun tay ngắn màu đỏ; 01 (một) quần jean dài
màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu đỏ; 01 (một) thẻ giữ xe máy tại điểm giữ
xe Sen Hồng; 01 (một) thẻ giữ xe máy số 9097; 01 (một) khóa cờ lê số 8-10; 01
(một) chìa khóa xe màu đen.
Trả lại bị cáo Lê Hoàng V 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei số Imei
1: 862311033388503; số Imei 2: 862311033462860 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để
đảm bảo thi hành án sau này.
(Theo Phiếu nhập kho đồ vật, tài liệu số: 11/19-PNK ngày 02/01/2019
của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và
khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án; bị cáo Lê Hoàng V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là
200.000 đồng.
Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định
được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người
được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 1, TP. HCM; - Chi cục THADS Quận 1, TP. HCM; - Công an Quận 1, TP. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP. HCM - Bị cáo; - Người bị hại, - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc Tuân |