vanban.org

Bản án 02/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 04/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Bá K1, bị cáo Vũ Đăng N1 phạm tội “Trộm cắp tài

1. Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s, điểm r khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 50; điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo K và bị cáo N trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Bá K1, bị cáo Vũ Đăng N1 phạm tội “Trộm cắp tài
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 02/2019/HSST
Ngày 04-01-2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tòng.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đứ c Dương;

Ông Hoàng Văn Tuấn.

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia

phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy,

tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo:

1). Trần Bá K1, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1987 tại xã H1, huyê ̣n V1, thành phố

Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn X1, xã H1, huyê ̣n V1, thành phố Hải Phòng ; nghề nghiệp: Lao động tự do ; trình độ học vấn : lớp 09/12; dân tộc : Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; họ tên bố: Trần Bá X1; họ tên mẹ: Vũ Thị L 1; họ tên vợ: Phạm Thị H2; có 03 con (Con lớ n sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: không. Danh chỉ bản số 1345 do Công an huyện Thái Thụy lập ngày 04-6-2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01-06-2018; bị tạm giam từ ngày 10-6-2018; hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Thái Bình; trích xuất; có mặt.

2). Vũ Đăng N1, sinh ngày 20 tháng 03 năm 1991 tại xã H1, huyê ̣n V1, thành phố

Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn B1, xã H1, huyê ̣n V1, thành phố Hải Phòng ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên bố: Vũ Đăng K2; họ tên mẹ: Nguyễn Thi ̣ N 2; họ tên vợ: Trần Thi ̣ N3; có 02 con (Con lớ n sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: không. Danh chỉ bản số 1410 do Công an huyện Thái Thụy lập ngày 04-10-2018. Bị cáo bị áp du ̣ng biê ̣n pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại; có mặt.

2.2. Bị hại:

(1). Ông Phan Văn S1, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Thôn H2, xã T1, huyện

T2, tỉnh Thái Bình. Có mă ̣t.

(2). Anh Lê Đứ c C1, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn Đ1, xã Đ2, huyê ̣n Đ3,

tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

(3). Anh Nguyễn Viết N4, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Thôn N5, xã T3, huyện

T2, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

(4). Anh Phan Văn V2, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn H2, xã T1, huyện

T2, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

2.3.Người làm chứng:

(1). Anh Pha ̣m Văn T 4, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn H2, xã T1, huyện

T2, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

(2). Ông Nguyễn Viết T5, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn N5, xã T3, huyện

T2, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

(3). Anh Vũ Văn T6, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn V3, xã A1, huyê ̣n Q1,

tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

(4). Ông Vũ Đăng K 2, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn B1, xã H1, huyê ̣n

V1, thành phố Hải Phòng- là bố đẻ bi ̣ cáo N1. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Bị cáo K1 và bị cáo N1 là bạn cùng xã H 1, huyê ̣n V1, thành phố Hải Phòng.

Các bị cáo đã c ùng nhau thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản ; riêng bi ̣ cáo K 1 còn mô ̣t minh thực hiê ̣n hai vu ̣ trô ̣m cắp khác, đều trên đi ̣a bàn huyê ̣n T2, tỉnh Thái Bình.

̀ Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Hồi 13 giờ ngày 14-11-2017, bị cáo K1 mang theo vam phá khóa

đến xã T1 trô ̣m cắp chiếc xe nhan hiê ̣̃

u Honda SH 150i, màu sơn đỏ- đen- xám biển kiểm soát17B6- 08299, số khung RLHKF141DY025776, số máy KF14E- 0025836trị giá 55.000.000đồng của ông Phan Văn S1 khi ông dựng xe trong ngõ gần đường đi thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n thôn T7, xã T1. Bị cáo bán xe cho người không biết tên tuổi địa chỉ với giá 12.000.000đồng. Ngày 18-11-2017, khi Công an huyê ̣n Đ1 kiểm tra hành chinh

́ trong linh vự̃

c giao thông đườ ng bô ̣ đa thu giữ

chiếc xe nhã

n hiê ̣̃

u Honda SH150i, màu sơn đo- đen- xám biển kiểm soát̉

17B3- 244.54 do chi ̣ Nguyễn Thi ̣ C2 điều khiển. Kết quả giám định xác định: Số khung, số máy của xe thu giữ từ chị C2 trùng vớichiếc xe bị mấtcủa ông S1.

Vụ thứ hai: Hồi 08 giờ ngày 15-11-2017, bị cáo K1 mang theo vam phá khóa

trô ̣m cắp chiếc xe nhan hiê ̣̃

u Sirius biển kiểm soá17B1- 64025t

trị giá 5.000.000đồng của anh Lê Đứ c C1 khi anh dựng xe ta ̣i khu vực lán công trườ ng xây dựng 456 thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n thôn H3, xã T8, huyê ̣n T2. Bị cáo bán xe giá4.000.000đồng cho ngườ i không biết tên đi ̣a chỉ . Tháng 02-2018, anh C1 đa mua la ̣̃

i chiếc xe này vớ i giá 3.000.000đồng.

Vụ thứ ba: Hồi 09 giờ ngày 24-5-2018, bị cáo K1 rủ bị cáo N1 đi trô ̣m cắp tài

sản; bị cáo N1 đồng ý và sử du ̣ng chiếc xe YAMAHA Exiter chở bi ̣ cáo K1 đi đến đi ̣a bàn huyện T2. Trên đườ ng đi, khi đến cử a hàng vâ ̣t liê ̣u Q3 thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n thôn N5, xã T3, huyê ̣n Thái Thu ̣y; các bị cáo phát hiện thấy chiếc xe môtô dựng tại trước cửa hàng; không có ngườ i trông coi, chìa khóa vẫn cắm tại xe, lại không có người trông coi. Bị cáo N1 điều khiển xe dừ ng ở gần và đứ ng cảnh giơ; còn bị cáo Ḱ i

1 xuống xe, đi bô ̣ đến gần, dong ra ngoài rồi nổ máy xe. Sau đo, bị cáo Ḱ

1 đi xe vừ a trô ̣m cắp đi trướ, bị cáoc N1 đi theo sau; cả hai đến nhà anh T6 nhờ anh tim nơi cầm cô. Đây lá

̀ chiếc xe mô tô

̀

nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 17B6- 22400 của anh Nguyễn Viết N 4 trị giá 34.000.000đồng. Do anh T6 chưa cầm cố xe nên chiếc xe đa đượ̃

c thu hồi trả cho anh N4.

Vụ thứ tƣ: Hồi 09 giờ ngày01-6-2018, bị cáo K1 rủ bị cáo N1 đi sang tinh Thả

́i Bình chơi. Bị cáo N1 đồng ý và sử dụng chiếc xe YAMAHA Exiter chở bị cáo K1 đi đến địa bàn huyện T2. Trên đườ ng đi, khi đến thôn H2, xã T1thì bị cáo K1 phát hiện thấy chiếc xe môtô nhan hiê ̣̃

u Dream biển kiểm soa17B6- 141́t

.44 dựng trướ c cử a nhà anh V2, chìa khóa vẫn để ta ̣i xe nên nảy sinh ý đi ̣nh trô ̣m cắp. Thấy không có ngườ i trông coi nên bi ̣ cáo N1 dừ ng xe gần đo; còn bị cáo K1 xuố

́ng xe, đi bô ̣ đến gần, nổ máy điều khiển xe về phía cầu phao sông H3, bị cáo N1 đi theo sau. Anh Phạm Văn T4 cùng lực lượng Công an huyện T2 đa cũ ̀ng nhau đuổi theo, sau đó bắt giữa bi ̣ cáo K1 cùng chiếc xe trộm cắp. Bị cáo N1 bỏ chạy, ngày 03-10-2018 đến Cơ quan điều tra đầu thú. Đây là chiếc xe môtô tri ̣ gia10.000́

.000đồng của anh Phan Văn V2.

Các chứng cứ chứng minh : Biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang ; Các biên

bản khám nghiệm hiện trường ; Các sơ đồ hiện trường ; Biên bản quản lý đồ vật ; Kết luận định giá tài sản ; Đơn trình báo và lời khai bị hại là ông S 1, anh C1, anh N4 và anh V2; lời khai người làm chứng là anh T4, anh T5, anh T6 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng là 04 chiếc xe mô tô đa đượ̃

c Cơ quan điều tra trả choông S1, anh V1, anh C1, và anh N4. Các vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy gồm: 01 biển kiểm soát 17B3- 24454; các vật chứng thu giữ từ bị cáo K1 gồm: 01 điện thoại NOKIA; 03 chìa khóa xe máy; 210.000đồng tiền mặt.

Tại phiên tòa, bị cáo K1 xác định: Bị cáo và bị cáo N 1 cùng nhau thực hiê ̣n

cả 4 vụ trộm cắp xe mô tô. Ngày 14-11-2017, hai bị cáo trô ̣m cắp xe Honda SH, bị cáo bán xe giá 12.000.000đồng; ngày 15-11-2017, hai bị cáo trô ̣m cắp xe nhan hiê ̣̃

u Sirius, bán với giá 4.000.000đồng. Ngày 24-5-2018, hai bị cáo trộm cắp xe Airblade biển kiểm soát 17B6- 22400; sau khi trộm cắp thì bị cáo K1 giao xe cho anh T6 nhờ cầm cố . Ngày 01-6-2018, hai bị cáo trộm cắp xe DReam biển kiểm soát 17B6-141.44; trên đường chạy trốn thì bị cáo bị bắt giữ cùng chiếc xe trộm cắp.

Tại phiên tòa, bị cáo N1 xác định: Bị cáo và bị cáo K 1 cùng nhau thực hiện

hai vu ̣ trô ̣m cắp : Ngày 24-5-2018, trô ̣m cắp xe nhãn hiệu Airblade biển kiểm soát 17B6- 22400; sau đó bị cáo K1 giao xe cho anh T6. Ngày 01-6-2018, trô ̣m cắp xe Dream biển kiểm soát 17B6- 141.44. Bị cáo không tham gia các vụ trộm cắp, không bán xe trộm cắp trong hai ngày 14-11-2017 và 15-11-2017. Bị cáo đã tự nguyện bồi thườ ng cho anh N4 số tiền3.000.000đồng, không yêu cầu bi ̣ cáo K1 trả bị cáo.

Tại phiên tòa, bị hại là ông Phan Văn S1 trình bày: Hồi 13 giờ 40 ngày 14-11-

2017, ông bi ̣ mất chiếc xe môtô nhan hiê ̣̃

u Honda SH 150i biển kiểm soát 17B5-082.99 khi ông để xe ta ̣i ngõ đitại thôn T7, xã T1. Các tài sản bị mất cùng vớichiếc xe gồm: mũ bảo hiểm, áo khoác, clê mỏ lết để sử a máy móc trong xây dựng. Hiê ̣n nay, ông đa nhâ ̣̃

n được xe bị mất gương, hỏng khóa. Ông yêu cầu bi ̣ cáo bồi thườ ng các chi phí: Thay khóa: 3.000.000đồng, mua biểnsố mớ i thay thế:: 2.000.000đồng, làm lại sơn xe: 200.000đồng, thay gương: 100.000đồng và các tài sản bi ̣ mất : Mũ bảo hiểm : 200.000đồng, áo khoác : 100.000đồng, clê mỏ lết : 250.000đồng; tổng cô ̣ng : 5.850.000đồng.

Bị hại là anh Lê Đứ c C1 trình bày: Hồi 12 giờ 00 ngày 15-11-2017, anh bi ̣

mất chiếc xe môtô nhan hiê ̣̃

u YAMAHA Sirius biển kiểm soát 17B1- 64025 tại xã T8. Tháng 02-2018, anh gă ̣p mô ̣t ngườ i đi xe của anh nên đa mua la ̣̃

i xe vớ i giá 3.000.000đồng. Anh yêu câu bồ

̀i thườ ng số tiền3.000.000đồng.

Bị hại là anh Nguyễn Viết N4 trình bày: Sáng ngày 24-5-2018, anh bị mất

chiếc xe môtô nhan hiê ̣̃

u Honda Airblade biển kiểm soát17B6- 22400 tại thôn N5, xã T3. Hiê ̣n nay anh đa nhâ ̣̃

n được xe; đa đượ̃

c bi ̣ cáo N1 bồi thườ ng 3.000.000đồng sử a khóa và gương. Vì vậy, anh không có yêu cầu gi thêm; anh đề nghi ̣ giảm nhe ̣ hinh

̀

̀ phạt cho cả hai bị cáo.

Bị hại là anh Phan Văn V2 trình bày: Sáng ngày 01-6-2018, anh bi ̣ mất chiếc

xe môtô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát17B6- 141.44 tại thônH2, xã T1. Hiê ̣n nay anh đa nhâ ̣̃

n được xe nên anh không yêu cầu bồi thườ ng.

Lờ i khai của những ngườ i làm chứ ng:

Anh Vũ Văn T6 trình bày: Ngày 24-5-2018, bị cáo K1 nhờ anh cầm cố hộ chiếc

xe mô tô nhan hiê ̣̃

u Airblade. Ngày 04-6-2018, anh được Công an huyê ̣n Thái Thu ̣y thông báo đó là chiếc xe do bi ̣ cáo pha ̣m tô ̣i mà có nên anh tự nguyê ̣n giao nô ̣p cho Cơ quan điều tra. Anh không có yêu cầugì.

Anh Phạm Văn T4 đã xác nhận việc anh cùng mọi người đuổi theo hai người

thanh niên trộm xe của anh V2 ngày 24-5-2018; bắt giữ bị cáo K1 cùng xe trộm cắp; còn bị cáo N1 chạy thoát.

Ông Nguyễn Viết T5 trình bày: Khi phát hiện hai thanh niên trộm cắp xe của

anh N4 thì ông đa hô mọi ngưỡ

̀ i đuổi bắt nhưng không được.

Bản cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 21-11-2018, Viện Kiểm sát nhân dân

huyện Thái Thụy truy tố bị cáo Khiêm về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173; truy tố bị cáo Nhẫn về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Luận tội của Kiểm sát viên: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan

điểm truy tố các bị cáo; đề nghị tuyên bố bị cáo K1, bị cáo N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị:

-Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm r, điểm

s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo K1 từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

-Khoản 1 Điều 173; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm b, điểm s khoản 1, khoản

2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo N1 từ 01(Mô ̣t) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.

- Điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị:

+Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát 17B3- 24454;

+Trả lại bị cáo K1 01 điện thoại NOKIA; 03 chìa khóa xe máy.và 210.000đồng tiền

mặt.

-Đề nghị: Không áp dụng hình phạt bổ sung;

-Về trách nhiệm dân sự:

Đề nghi ̣ áp du ̣ng Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự ; Điều 584, Điều 585,

Điều 589 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự : Buộc bị cáo K1 bồi thường cho anh C1 số tiền 3.000.000đồng. Chấp nhận sự thỏa thuận bị cáo K 1 bồi thườ ng cho ông S1 số tiền 5.000.000đồng.

-Các bị cáo phải chịu án phí.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Trong

quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa

sơ thẩm, bị cáo K1 xác định đã thực hiện 4 vụ trộm cắp xe mô tô; bị cáo N1 trình bày đã cùng bị cáo K1 thực hiện 2 vụ trộm cắp xe mô tô. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án . Các bị cáo là ngườ i trên18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp . Bị cáo K1 tự minh thực hiê ̣n hai vu ̣ trô ̣m cắp : Ngày 14-11-2017, trô ̣m cắp xe môtô nhãn hiệu

̀ Honda SH 150i tri ̣ giá 55.000.000đồng; Ngày 15-11-2017, trô ̣m cắp xe mô tô nhãn hiê ̣u Sirius tri ̣ giá 5.000.000đồng. Bị cáo K1 cùng bị cáo N 1 thực hiê ̣n hai vu ̣ trô ̣m cắp khác : Ngày 24-05-2018, trô ̣m cắp xe mô tô Airblade tri ̣ giá 34.000.000đồng; ngày 01-6-2018, trô ̣m cắp xe mô tô nhãn hiệu Dream trị giá 10.000.000đồng. Như vâ ̣y, bị cáo K1 trô ̣m cắp4 vụ, tổng giá tri ̣104 .000.000đồng; bị cáo N1 trô ̣m cắp 2 vụ, tổng giá tri ̣ tài sản trô ̣m cắp là 44.000.000đồng. Hành vi của các bi ̣ cáo đa pha ̣̃

m tô ̣i: “Trộm cắp tài sản”; trong đó bi ̣ cáo K1 vi pha ̣m điểm c khoản2; bị cáo N1 vi pha ̣m khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến

dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:………...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm

đến 07 năm:

………;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

……...”.

Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo K1 về tô ̣i “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173; truy tố bị cáo N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

. Về vai trò của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự: Đây là vụ đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ. Trong đó:

-Bị cáo K1, bị cáo N1 phải chịu một tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở

lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

-Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho

cả hai bị cáo nên cả hai bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

-Bị cáo K1 tự thú hai vu ̣ trô ̣m ngày 14-11-2017, ngày 15-11-2017 nên được

hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

-Bị cáo N1 tự nguyện bồi thường, đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo là người lao động nhưng không chịu tu dưỡng nên đã thực hiện

hành vi phạm tội phạm tội. Các bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong trông coi tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; là nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý về hình sự; cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt tù với cả hai bị cáo. Theo các tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người lao động, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả hai bị cáo.

Bị cáo K1, bị cáo N1 đều là những người thực hành tích cực trong hai vụ

trộm cắp; bị cáo K1 còn một mình thực hiện hai vụ án khác. Vì vậy, bị cáo Khiêm giữ vai trò chính; bị cáo N2 giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

. Về các vấn đề khác trong vụ án:

- Bị cáo K1 trình bày: Bị cáo N1 cùng bị cáo tham gia trộm cắp vụ ngày 14-

11-2017; ngày 15-11-2017. Nhưng bi ̣ cáo N 1 và ông K 2 xác định: Hai ngày 14-11-2017; ngày 15-11-2017, bị cáo N1 bị ốm ở nhà thì bị cáo K1 không trinh bày gi

̀

̀ thêm. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác định.

-Anh T6 là người nhận xe để cầm cố cho các bị cáo nhưng anh không biết là

tài sản do các bị cáo phạm tội mà có. Chị C2 nhận cầm cố tài sản là chiếc xe SH 150i nhưng chị chỉ biết ngườ i đến cầm cố xe tên là Đỗ Tuấn A1 mà không biết địa chỉ. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh T6, chị C2; không có cơ sở xác định người cầm cố tài sản cho chị C2, không có cơ sở xem xét yêu cầu của chị C2.

-Bị cáo K 1 trình bày: Khi trô ̣m cắp xe của anh C 1, bị c áo bán cho người

không biết tên, đi ̣a chi. Anh C1 trình bày: Tháng 02-2018, anh thẩ

́y ngườ i đàn ông đi xe mô tô mà anh bi ̣ mất từ tháng 11-2017 nên anh đa mua la ̣̃

i chinh chiếc xe đó

́ nhưng không biết ho ̣ tên , đi ̣a chi ngưở

̀ i bán nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác định.

. Về trách nhiệm dân sự:

-Anh C1 yêu cầu bồi thường khoản tiền anh đã chi ra để mua lại chiếc xe của

anh bị mất là 3.000.000đồng. Cần áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo K1 bồi thường cho anh C1 số tiền 3.000.000đồng.

-Tại phiên tòa, bị cáo K1 và ông S1 đã thống nhất với nhau: Bị cáo K1 bồi

thường cho ông S1số tiền 5.000.000đồng. Việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận sự thỏa thuận này.

-Bị hại là các anh Phan Văn V2, anh Nguyễn Viết N4 đã nhận tài sản, đã

nhận tiền bồi thường nên các anh đều không yêu cầu bồi thườ ng th êm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

. Về vật chứng, xử lý vật chứng:

-Trong quá trình tố tụng, Cơ quan điều tra đã trả cho ông Phan Văn S1: 01 xe

mô tô nhãn hiệu SH 150i; đã trả cho anh Lê Đức C1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển kiểm soát 17B1-64025; đã trả cho anh Nguyễn Viết N4: 01 xe mô tô nhañ hiê ̣u Airblade; đã trả cho anh Phan Văn V2: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 17B6- 147144.

-Trong quá trình tố tụng, Cơ quan điều tra đã thu giữ từ bị cáo K1: 01 điện

thoại NOKIA; 210.000đồng tiền mặt và 03 chìa khóa xe máy. Đây là tài sản của bị cáo K1, không liên quan đến tội phạm nên cần trả cho bị cáo.

- 01 biển kiểm soát 17B3- 24454, cần áp dụng điểm c khoản2 Điều106 Bô ̣ luâ ̣t Tố

tụng hình sựtịch thu tiêu hủy.

-Các vật chứng cơ quan điều tra không thu hồi được: 01 vam phá khóa, 01

biển kiểm soát số 17B6- 08299; 01 biển kiểm soát số 17B6- 22400 và 01 chiếc xe nhãn hiệu YAMAHA Exiter.

-Bị cáo K1 trình bày: Trong hai ngày14-11-2017 và ngày15-11-2017, bị cáo bán

hai xe trô ̣m cắp vớ i giá 12.000.000đồng và 4.000.000đồng, cô ̣ng 16.000.000đồng. Bị cáo phải thanh toán cho ông S 1 số tiền 5.000.000đồng và anh Chinh số tiền

́ 3.000.000đồng; cô ̣ng 8.000.000đồng. Như vâ ̣y , bị cáo K 1 đa thu lợ̃

i bất chinh

́ 8.000.000đồng, cần áp du ̣ng Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000,đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị

cáo Khiêm phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần trách nhiệm dân sự phải bồi thường là 400.000đồng(=5% x 8.000.000đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Trần Bá K1, bị cáo Vũ Đăng N1 phạm tội “Trộm cắp tài

sản”.

2. Xử phạt:

2.1. Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm s,

điểm r khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 50; điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo K1: 03 (Ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01-06-

2018.

2.2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm s, điểm r

khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 50; điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo N1: 01 (Mô ̣t) năm06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt

thi hành án.

3.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584,

Điều 589 Bộ luật dân sự.

-Buộc bị cáo K1 bồi thường cho anh C1 số tiền 3.000.000đồng.

-Chấp nhận sự thỏa thuận: Bị cáo K1 bồi thườ ng cho ông S 1 số tiền

5.000.000đồng.

4.Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát 17B3- 24454.

-Trả lại bị cáo 01 điện thoại NOKIA; 03 chìa khóa xe máy va210.000đồng.̀

-Tịch thu từ bi ̣ cáo K1: 8.000.000đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.

Các vật chứng hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái

Thụy theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-11-2018 gồm: 01 biển kiểm soát 17B3- 24454; 01 điện thoại NOKIA; 03 chìa khóa xe máy va210.000đồng.̀

5. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1

Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo K1 phải chịu 200.000đồng án phí hình sự và 400.000đồng án phí dân

sự sơ thẩm; cộng là 600.000đồng. Bị cáo N1 phải chịu 200.000,đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày; đối với người có mặt,

kể từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt, kể từ ngày được giao bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành

án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 9 Luật thi hành án dân sự; điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp

cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Cỡ chữ