vanban.org

Bản án 02/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 18/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ Điểm a Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017);

Tuyên bố bị cáo Bùi Tấn T ph m tội “Trộm cắp tài sản”. Xử ph t bị cáo Bùi Tấn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/01/2019). Trong thời gian thử thách, người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v 02 lần tr lên thì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ Điểm a Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017);
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH QUẢNG NAM
-------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019 /HSST
Ngày: 18/01/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trình Minh Hùng

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Bộ

Bà Vũ Thị Thanh Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trâm – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 01 n m 2019, t i tr s T a án nh n d n huyện P, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 39/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 12 n m 2019 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 n m 2019 đối với bị cáo:

Bùi Tấn T, sinh ngày 26 tháng 4 n m 1993 t i P, Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; D n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Bùi V n S, sinh n m: 1961 và bà Ph m Thị H, sinh n m: 1964.

Tiền sự: Ngày 29/5/2018, bị can bị Công an xã Bình T, huyện T, tỉnh Quảng Nam ra Quyết định xử ph t vi ph m hành chính bằng hình thức ph t tiền về hành vi “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/6/2018, đã chấp hành xong.

Bi cáo bị áp d ng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Bị h i: Chị Võ Minh L, sinh n m 1980, trú t i: Thôn P, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:

+ Anh Nguyễn Q, sinh n m: 1996, trú t i: Khối phố 3, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

+ Ông Trần V n D, sinh n m: 1963, trú t i: Khối phố 10, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 26/7/2018, Bùi Tấn T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 92L-212.76 ch Nguyễn Q đến uống cà phê t i quán 360o thuộc phường A, thành phố T. Trong lúc đang uống cà phê thì Q rủ T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài và T cũng đồng ý. T điều khiển xe môtô ch Q ngồi phía sau đi lên huyện P để tìm tài sản trộm cắp. Khi cả hai đến trước đo n đường trường Trung học cơ s Đinh Tiên Hoàng, thôn P, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam thì nhìn thấy quán t p hóa của chị Võ Minh L không có người trông coi nên T dừng l i, để xe nổ máy trước cửa rồi đứng canh giới để Q vào trộm cắp tài sản. Q đi vào trong quán t p hóa lén lút lấy 04 (bốn) thùng bia Larue mang ra để phía sau T. Sau đó, cả hai ch 04 (bốn) thùng bia đã trộm cắp được đến quán t p hóa của anh Trần V n D t i số đường T, thành phố T bán cho anh D được số tiền 700.000 (bảy tr m ngàn) đồng. T và Q chia nhau mỗi người được 350.000 (ba tr m n m mươi ngàn) đồng và đã tiêu xài hết. Bốn thùng bia Larue anh D đã bán cho khách nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

T i Kết luận định giá tài sản ngày 31/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự P kết luận giá trị của 04 (bốn) thùng bia hiệu Larue, lo i bia lon t i thời điểm ngày 26/7/2018 là 812.000 (tám tr m mười hai ngàn) đồng.

T i Cơ quan điều tra, Bùi Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình, lời nhận tội phù hợp với các tài liệu điều tra có trong hồ sơ v án.

T i bản cáo tr ng số 02/CT-VKS ngày 17-12-2018 Viện kiểm sát nh n d n huyện P đã truy tố bị can Bùi Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm a Khoản 1 Điều 173 BLHS n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017 (BLHS n m 2015).

T i phiên t a, đ i diện Viện kiểm sát nh n d n huyện P đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Tấn T ph m tội “Trộm cắp tài sản”, đề xuất áp d ng: điểm a khoản 1 điều 173 BLHS n m 2015, Điểm b, h, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS n m 2015, xử ph t bị cáo T từ 6 (sáu) đến 9 (chín) tháng tù nhưng cho hư ng án treo thời gian thử thách gấp đôi và đề nghị xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Sirius Yamaha màu đen – đỏ, biển kiểm soát 92L1-212.76 của Bùi Tấn T dùng để đi thực hiện hành vi ph m tội đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 (một) USB trích xuất hình ảnh trộm cắp t i quán t p hóa vào trưa ngày 26//7/2018 cần tiếp t c lưu giữ trong hồ sơ v án.

T i phiên t a, bị cáo Bùi Tấn T thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội như cáo tr ng đã truy tố, xin lỗi người bị h i và hứa cải t o tốt, chấp hành pháp luật, không vi ph m, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố t ng: Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện Kiểm Sát nh n d n huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên t a, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Phiên tòa bị cáo Bùi Tấn T đã khai nhận vào khoảng 09 giờ ngày 26/7/2018, Bùi Tấn T và Nguyễn Q trộm cắp của chị Võ Minh L 04 (bốn) thùng bia Larue trị giá 812.000 đồng. Đối chiếu lời khai của bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan, với những tài liệu, chứng cứ khách quan khác đã được thẩm tra t i phiên t a là phù hợp. Số tiền bị cáo trộm cắp 812.000 đồng nhưng bị cáo đã bị xử ph t hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”. Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy có đủ cơ s để kết luận hành vi của bị cáo T g y ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội ph m và hình ph t được quy định t i Điểm a Khoản 1 Điều 173 BLHS n m 2015, như bản cáo tr ng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nh n d n huyện P đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất v án, mức độ hành vi ph m tội của bị cáo thì thấy: Tài sản hợp pháp của mọi cá nh n, cơ quan, tổ chức đều được pháp luật công nhận và bảo hộ, không ai được phép x m ph m bất hợp pháp. Bị cáo Bùi Tấn T là người có đầy đủ n ng lực để nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi ph m pháp luật. Thế nhưng, do bản tính tham lam, lười biếng lao động, ham lợi bất chính, muốn chiếm đo t tài sản của người khác để có tiền tiêu xài cá nh n mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, lợi d ng sơ h của người bị h i, bị cáo đã cố ý lén lút trộm cắp tài sản của người bị h i với tổng giá trị tài sản là 812.000 ( tám tr m mười hai ngàn) đồng. Hành vi này thể hiện bị cáo quá coi thường pháp luật và đã x m ph m đến quyền s hữu tài sản hợp pháp của người bị h i, g y hoang mang lo sợ trong quần chúng nh n d n, g y mất trật tự an toàn xã hội. Lỗi này hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do vậy, cần phải có một mức án tương xứng với hành vi ph m tội đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra và t i phiên t a, đã khai báo thành khẩn, n n n hối cải về hành vi ph m tội của mình, tài sản có giá trị không lớn, đã bồi thường khắc ph c toàn bộ thiệt h i cho người bị h i, bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đ y là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm điểm b, h, i, s khoản Điều 51 BLHS n m 2015, được xem xét khi lượng hình, giảm nhẹ một phần hình ph t cho bị cáo. Bị cáo xuất th n từ nh n d n lao động nông thôn, có nơi cư trú rõ ràng nên áp d ng Điều 65 LHS n m 2015, xử ph t tù nhưng cho bị cáo hư ng án treo là đủ nghiêm, thể hiện tính nh n đ o, khoan hồng của nhà nước.

* Về trách nhiệm d n sự: Người bị h i đã nhận giá trị tài sản đã bị mất và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về vật chứng trong v án: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Sirius Yamaha màu đen – đỏ, số máy 5C64345672, số khung C640AY345673, biển kiểm soát 92L1-212.76 của Bùi Tấn T dùng để đi thực hiện hành vi ph m tội nên cần phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 (một) USB trích xuất hình ảnh trộm cắp t i quán t p hóa vào trưa ngày 26//7/2018 cần tiếp t c lưu giữ trong hồ sơ v án.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Bùi Tấn T chịu theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

C n cứ Điểm a Khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017);

Tuyên bố bị cáo Bùi Tấn T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử ph t bị cáo Bùi Tấn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/01/2019). Trong thời gian thử thách, người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v 02 lần tr lên thì T a án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo.

Giao bị cáo Bùi Tấn T cho Ủy ban nh n d n xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hư ng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định t i khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về biện pháp tư pháp: Điều 47 BLHS n m 2015; Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự n m 2015: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe môtô nhãn hiệu Sirius Yamaha màu đen – đỏ, số máy 5C64345672, số khung C640AY345673, biển kiểm soát 92L1-212.76 của Bùi Tấn T ( vật chứng hiện đang được t m giữ t i Chi c c Thi hành án d n sự huyện P theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/12/2018).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp d ng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí T a án;

Bị cáo Bùi Tấn T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định t i Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định t i Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án hình sự. Thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ