vanban.org

Bản án 02/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 17/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Bửu T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”

Xử phạt bị cáo Mai Bửu T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án (17/01/2019). Trong thời gian thử thách giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hòa Định, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Bửu T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/HSST
Ngày: 17/01/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Viễn

Ông Trƣơng Hoàng Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thủy Uyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Bà Lý Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2018/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

MAI BỬU T, sinh năm 1988; tại: tỉnh Tiền Giang.

- Nơi cư trú: ấp Hòa Lạc Trung, xã Hòa Định, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; CMND: 311919478; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm mướn; Con ông Mai Văn Q, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952 (đã chết); Vợ tên Trần Thị Kim C, sinh năm 1991 và có 01 con tên Mai Thịnh P, sinh năm 2011; Tiền sự: không; Tiền án: không. Ngày 03/8/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Gạo khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Nguyễn Anh K - sinh năm: 1979 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Bình Phú, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

* Người làm chứng:

1/ Nguyễn Văn S, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Bình Phú, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

2/ Huỳnh Thanh T, sinh năm 1981(vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Hòa Thạnh, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

3/ Nguyễn Bá V, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Bình Quới Thượng, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/7/2018 Nguyễn Anh K, sinh năm 1979, ngụ ấp Bình Phú, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang điều khiển xe mô tô biển số 63B4-305.76 đến nhà Mai Bửu T để đòi số tiền mà T đã thiếu. Tại đây, hai bên xảy ra cự cãi do T không đồng ý trả số tiền nợ mà hẹn 10 ngày sau mới trả. Sau đó, T dùng tay đánh vào người K nên K bỏ xe mô tô chạy ra ngoài, điện thoại cho Nguyễn Văn S, sinh năm 1978, ngụ cùng ấp với K; Huỳnh Thanh T, sinh năm 1981, ngụ ấp Hòa Thạnh, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang và Nguyễn Bá V, sinh năm 1980, ngụ ấp Bình Quới Thượng, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đến nhà T để lấy xe về dùm K. Khoảng 20 phút sau, S, T, V đến nhà T, K cùng S vào nhà T nói chuyện, T và V đứng ở ngoài sân đợi. K và T tiếp tục cự cãi, T dùng tay đánh vào K, K lấy nón bảo hiểm đánh vào tay và vai T, lúc này T vào nhà lấy con dao rựa cán làm bằng gỗ dài 60 cm, lưỡi làm bằng kim loại màu đen dài 39 cm, sắc bén một bên, đầu lưỡi cong chém nhiều cái vào trán, vai và tay K gây thương tích.

Tại phiên tòa bị cáo Mai Bửu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 173/CN-BV ngày 16/7/2018 của Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang, anh K có những thương tích sau:

- Vết thương trán trái 05 cm.

- Vết thương vai trái 04 cm.

- Vết thương sau gáy 04 cm.

- Vết thương xước da cẳng tay trái 08 cm.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 244/2018/TgT ngày 17/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Anh K là 13%, thương tích do vật sắt gây nên.

* Về vật chứng của vụ án: 01 (một) con dao loại rựa cán làm bằng gỗ dài 60 cm, lưỡi làm bằng kim loại màu đen dài 39 cm, sắc bén một bên, đầu lưỡi cong; 01 (một) mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng – xanh, trên nón có in chữ SFEC; 01 (một) xe mô tô biển số 63B4-367.99, loại Sirius; 01 (một) xe mô tô biển số 63B4-293.43, loại Exciter.

Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Gạo đã trao trả hai chiếc xe mô tô trên cho bị cáo Mai Bửu T.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định, kết luận định giá tài sản và vật chứng của vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Anh K yêu cầu bị cáo bồi thường tiền thuốc điều trị, ngày công lao động, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với số tiền 30.000.000 đồng. Phía bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền trên. Hiện tại anh K đã nhận đủ số tiền trên.

Riêng việc K dùng nón bảo hiểm đánh vào tay và vai T chỉ bị xây xát ngoài da, T không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích và cũng không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Theo lời khai của T, anh S và hai thanh niên đi cùng K có cầm theo hung khí, S cầm côn ba khúc, một người cầm dao tự chế (mã tấu) và người còn lại cầm tuýt sắt. Anh S và một thanh niên đi cùng K (T không biết tên) dùng mã tấu và côn ba khúc đập vào hai xe mô tô biển số 63B4-293.43 và xe mô tô biển số 63B4-367.99 do T đứng tên chủ sở hữu bị hư hỏng. Tuy nhiên, theo lời khai ban đầu S, T, V không thừa nhận cầm theo hung khí, đồng thời tại hiện trường vụ án cũng không thu giữ được các hung khí trên. Qua quá trình điều tra, xác minh, định giá tài sản hư hỏng (hai chiếc xe mô tô trên) thì không đủ định lượng và các đối tượng này không thừa nhận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Gạo không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Bản cáo trạng số 02/CT-VKSNDCG ngày 03/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố bị cáo Mai Bửu T về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Mai Bửu T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao loại rựa cán làm bằng gỗ dài 60 cm, lưỡi làm bằng kim loại màu đen dài 39 cm, sắc bén một bên, đầu lưỡi cong; 01 (một) mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng – xanh, trên nón có in chữ SFEC.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình

phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai những người làm chứng, lời khai bị hại, bản kết luận giám định pháp y, cùng các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/7/2018 anh K có đến nhà bị cáo T đòi nợ thì giữa bị cáo và anh K xảy ra mâu thuẫn. Bị cáo dùng tay đánh anh K còn anh K dùng nón bảo hiểm đánh vào tay và vai của bị cáo. Bức xúc do bị đánh nên bị cáo T vào nhà lấy con dao rựa, là hung khí nguy hiểm, chém nhiều cái vào trán, vai và tay K gây thương tích cho K với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 13% và bị cáo dùng hung khí nguy hiểm là dao rựa gây thương tích cho anh K. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi và hậu quả do bị cáo T gây ra có đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc Tuy nhiên, xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. bị hại K cũng có đơn bãi nại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo có nhân thân tốt có ông cố tên Nguyễn Văn M là liệt sĩ và ông ngoại tên Nguyễn Văn D đã góp công, góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đồng thời, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Ngoài ra trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi là dùng nón bảo hiểm đánh bị cáo nên dẫn đến việc phạm tội của bị cáo.Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo Mai Bửu T ra khỏi xã hội mà cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ sức giáo dục và phòng ngừa chung đối với bị cáo Mai Bửu T.

Đối với việc K dùng nón bảo hiểm đánh vào tay và vai T chỉ bị xây xát ngoài da, T không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích và cũng không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Đối với ba đối tượng tên Nguyễn Văn S, Huỳnh Thanh T và Nguyễn Bá V: bị cáo khai đi cùng anh K đến nhà bị cáo dùng mã tấu và côn ba khúc đập vào hai xe mô tô biển số 63B4-293.43 và xe mô tô biển số 63B4-367.99 do T đứng tên chủ sở hữu bị hư hỏng. Quá trình điều tra, tài sản hư hỏng hai chiếc xe mô tô trên không đủ định lượng và các đối tượng này không thừa nhận cầm theo hung khí làm hư hỏng hai chiếc xe nêu trên, đồng thời tại hiện trường vụ án cũng không thu giữ được các hung khí trên nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là có cơ sở. Trường hợp bị cáo T yêu cầu thì giải quyết trong vụ kiện dân sự.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Chợ Gạo thu giữ 01 (một) con dao loại rựa cán làm bằng gỗ dài 60 cm, lưỡi làm bằng kim loại màu đen dài 39 cm, sắc bén một bên, đầu lưỡi cong là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật hình sự tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng – xanh, trên nón có in chữ SFEC của anh Nguyễn Anh K. Anh K không nhận lại tài sản nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật hình sự tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xét lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về xử lý vật chứng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Theo quy định tại điểm a, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Mai Bửu T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Mai Bửu T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án (17/01/2019).

Trong thời gian thử thách giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hòa Định, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

+ Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao loại rựa cán làm bằng gỗ dài 60 cm, lưỡi làm bằng kim loại màu đen dài 39 cm, sắc bén một bên, đầu lưỡi cong; 01 (một) mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng – xanh, trên nón có in chữ SFEC.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2019).

+ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

+ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình

sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ

thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ