vanban.org

Bản án 02/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 25/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

/Tuyên xử:Bị cáo Nguyễn Danh H phạm tội: “Trộ m cắ p tài sản”. 2.

Giữ nguyên kèm theo hồ sơ : 01 USB nhãn hiệu Tosiba, màu trắng, dung lượng 4G chứa dữ liệu 02 video thu được từ Camera của Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì giao nộp; CQĐT đã niêm phong và chuyển cùng hồ sơ ( Có thống kê số BL 284 và 285 tại hồ sơ vụ án) . Buộc bị cáo H phải truy thu nộp sung công quỹ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Danh Hào - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? /Tuyên xử:Bị cáo Nguyễn Danh H phạm tội: “Trộ m cắ p tài sản”. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/HSST
Ngày 25/01/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường.

+ Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Thuật – Nguyên Chủ tịch MTTQ xã Đông Quang .

Ông Phan Văn Vinh – Nguyên Hiệu phó trường THCS Tiên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa:Ông Lê Văn Anh – Kiểm sát viên sơ cấp .

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì.

Ngày 25/01/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số:02/2019/HSST ngày 07/01/2019 đối vớibị cáo:

Nguyễn Danh H, sinh năm 1985; Nơi ĐKHKTT và trú tại :Khu 5, xã MC, huyện BV, t,p Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Danh C (đã chết); Con bà Phương Thị Đ1, sinh năm 1956; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986; Hiện trú tại: Khu 5, xã Minh Châu, huyện Ba Vì, t,p Hà Nội;Con: có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17.02.2016 UBND xã Minh Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền là : 2.000.000 đ, (Hai triệu đồng). Bị cáo Hào đã nộp xong tiền phạt .Bị cáo H được tại ngoại tại địa phương; Có mặt tại phiên tòa .

Ngườ i bị hại :

Anh Chu Văn V, sinh năm 1992.

Trú tại : Thôn ĐB, xã ĐT, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội .

( Anh Việt có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

Anh Nguyễn Danh Đ, sinh năm 1991.

Trú tại : Khu 4, xã MC, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội .

( Vắng mặt tại phiên tòa)

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :

Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1988. Trú tại : Số 84, phố HĐ, thị trấn TĐ, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội .

( Anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

Anh Nguyễn Việt D, sinh năm 1985.

Trú tại : Số 2, phường KG, quận TX , t.p Hà Nội .

Chị Phạm Thị Thùy L, sinh năm 1974.

Trú tại : Số 458, MK, VT, quận Hai Bà Trưng, t.p Hà Nội.

Anh Phạm Ngọc Đ2, sinh năm 1979.

Trú tại : Số 2, Hẻm 7/22, Ngỗ TH, phường CD, quận Hai Bà Trưng, t.p Hà Nội; ( Anh D, chị L, anh Đ2 vắng mặt tại phiên tòa) Ngƣời làm chứng : Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986.

Trú tại : Thôn TM, xã VL, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội .

(Có mặt tại phiên tòa) .

Ông Nguyễn Quốc H1; Sinh năm 1960; Chức vụ : Giám Đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Ba Vì, t.p Hà Nội ; Địa chỉ : Khu TM, xã VL, huyện Ba Vì, t.p Hà Nội .Ông H1 ủy quyền cho ông Vũ Minh T3, chøc vô : Phó trưởng phòng tổ chức hành chính – Bệnh viện Đa khoa khoa huyện Ba Vì, t.p Hà Nội ; §Þa chØ : Thôn CP, xã SĐ, huyÖn Ba V× , thµnh phè Hµ Néi .

(Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa) Bị cáo Nguyễn Danh H bị Viện kiểm sátnhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố về tộ i : “ Trộm cắp tài sản ” theo Khoả n 1 Điề u 173 - Bộ luật hình sự năm 2015.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 05/5/2018 bị cáo Nguyễn Danh H đi bộ một mình từ phòng trọ ở xã Vật Lại đến khoa sản Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì để tìm chị Đỗ Thị T1 (Là người thân) để vay tiền, do không tìm thấy chị T1 nên H ra về. Khi đi qua phòng bệnh số 9- khoa ngoại tổng hợp, thấy bên trong có 01 bệnh nhân đang truyền nước, ở đầu giường có để 01 chiếc điện thoại di động màu đen nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại đó. Thực hiện ý định, H cầm điện thoại của mình áp vào tai giả vờ như đang nói chuyện rồi đi loanh quanh và ngồi ở ghế đá phía trước cửa phòng bệnh số 9 với mục đích quan sát tìm cơ hội để trộm cắp. Đến khoảng hơn 13h cùng ngày, thấy không có người qua lại, H lẻn vào phòng thì thấy trong phòng có 03 giường được đánh số 38, 39, 40 theo thứ tự từ ngoài cửa vào trong. Lúc này trên giường số 38 là ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1955-ở xã TB, huyện Ba Vì đang ngủ quay mặt vào tường, ở giường số 39 là anh Chu Văn V, sinh năm 1992- ở xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, đang truyền nước ngủ, dưới gối anh V để 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu đen đang sạc pin. Quan sát chỉ thấy 02 người đang ngủ, H tiến tới giường của anh V, tay phải cầm điện thoại, tay trái rút dây sạc rồi cất điện thoại vào túi quần bên phải phía trước. Lấy được điện thoại H ra khỏi phòng, chạy theo hành lang khoa ngoại tổng hợp ra cổng số 1 tẩu thoát. Về đến phòng trọ thấy không có ai ở phòng, H ra quốc lộ 32 bắt xe khách đến cửa hàng điện thoại biển hiệu “Tú Phương Mobile” địa chỉ số 84 – Quảng Oai- Ba Vì do anh Nguyễn Minh T (SN 1988-ở TT. Tây Đằng) làm chủ, qua thỏa thuận H đã bán chiếc điện thoại vừa trộm được cho anh T với giá 1.500.000 đồng, số tiền này H đã tiêu xài hết. Sau khỉ tỉnh dậy phát hiện mình bị mất điện thoại, anh V đi tìm nhưng không thấy nên đã trình báo đến CQĐT. Ngày 09.11.2018, bị cáo H đã đến CQĐT-CA huyện Ba Vì để đầu thú về hành vi trộm cắp điện thoại của anh V tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì ngày 05.5.2018 như trên. Ngoài ra quá trình điều tra, H còn khai nhận đã thực hiện 01 vụ trộm cắp nữa vào ngày 14.5.2018 tại xã Minh Châu, cụ thể: Do thiếu tiền tiêu xài, khoảng 09h sáng ngày 14/5/2018 H đi bộ một mình từ nhà đến xã Tuân Chính- huyện Vĩnh Tường- tỉnh Vĩnh Phúc để bán chiếc điện thoại của mình lấy tiền tiêu, khi đi đến đường liên thôn 4 sang liên khu 5- xã Minh Châu, thấy có 01 chiếc xe máy Wave anpha BKS 93H4-9538 của anh Nguyễn Danh Đ, sinh năm 1991- ở xã Minh Châu, huyện Ba Vì, đang dựng ở bờ ruộng (anh Đ đang làm đồng ở dưới ruộng) có nhiều sơ hở nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp. Thực hiện ý định, H về nhà lấy 01 chiếc mũ, 01 bao tải đã cũ để giả vờ như đang đi làm đồng nhằm tiếp cận chiếc xe tránh bị ai nghi ngờ. Khi đi gần đến chiếc xe, H bỏ bao tải xuống, dùng tay lắc đầu xe thấy xe không bị khóa nên dắt bộ xe theo đường liên thôn khu 5- xã Minh Châu để tẩu thoát, khi đi được khoảng hơn 200m thì H bị anh Đ phát hiện và đuổi theo. Thấy vậy, H bỏ lại xe chạy vào ruộng cỏ sữa ven đường rồi chạy thoát. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 02 video được ghi lại từ Camrera của Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì. Tại Bản Kết luận giám định số 2562/C54-P6 của Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận đối với 02 video thu giữ từ Camera tại Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì ngày 05/5/2018 như sau: Nội dung 02 tệp video gửi giám định không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa.Trích từ 02 tệp cho 3226 hình ảnh người mặc áo phần dưới có màu đỏ, phía trên có màu sáng trắng, viền cổ sẫm màu.Sao lưu 02 tệp ra đĩa DVD. Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì số 20/2018 ngày 25/5/2018 kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu đen 128 G đã qua sử dụng trị giá 14.000.000 đồng. Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì số 50/2018 ngày 07/8/2018 kết luận: 01 chiếc xe máy Wave anpha, loại xe nữ, màu sơn xanh đen, số máy 6013309, số khung 090226Y013288, BKS 93H4-9538 đã qua sử dụng trị giá 6.000.000 đồng. Về phần dân sự :Anh Chu Văn V, Nguyễn Danh Đ, Nguyễn Minh T, Nguyễn Việt D, Phạm Ngọc Đ2 và chị Phạm Thị Thùy L đều không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự . Tang vật, vật chứng: 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus, màu đen, 128G, số IMEI: 355347080247733 thu giữ của chị Phạm Thị Thùy L ngày 10.7.2018 (Đã trả lại cho anh Chu Văn V). -01 USB nhãn hiệu Tosiba, màu trắng, dung lượng 4G chứa dữ liệu 02 video thu được từ Camera của Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì do ông Nguyễn Quốc H1- SN 1960- Giám đốc bệnh viện giao nộp ngày 05.5.2018; CQĐT đã niêm phong và chuyển cùng hồ sơ vụ án . Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 04/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Danh H về tội: “ Trộ m cắ p tà i sả n” , theo Khoản 1 Điều 173 - BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Danh H về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu. Đề nghị HĐXX : Áp dụng Khoản 1Điều 173 điểms khoản 1, khoản 2 Điề u 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 - BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Danh H từ 15đến 18tháng tù. Về phần dân sự :Người bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan, đều không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự . Không đề cập HĐXX xem xét . Tang vật, vật chứng: -01 USB nhãn hiệu Tosiba, màu trắng, dung lượng 4G chứa dữ liệu 02 video thu được từ Camera của Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì giao nộp ngày 05.5.2018; CQĐT đã niêm phong và chuyển cùng hồ sơ vụ án đã được thống kê tại bút lục trong hồ sơ làm căn cứ giải quyết vụ án . Buộc bị cáo H phải truy thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền 1.500.000,đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), khi bán 01 chiếc điện thoại đã chiếm đoạt của anh Chu Văn V là tài sản thu lời bất chính do phạm tội mà có . Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng,cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo H phù hợp lời khai tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Thấy rằng : Trong khoảng thời gian từ ngày 05/5/5018 đến ngày 14/5/2018 bị cáo Nguyễn Danh H đã 02 lần có hành vi lén lút trộm cắp tài sản . Cụ thể ngày 05/5/2018 bị cáo H chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu đen 128 G của anh Chu Văn V đang nằm viện điều trị tiếp nước tại Bệnh viện đa khoa

huyện Ba Vì . Ngày 14/5/2018 bị cáo H chiếm đoạt 01chiếc xe máy Wave anpha, loại xe nữ, màu sơn xanh đen, số máy 6013309, số khung 090226Y013288, BKS 93H4-9538 của anh Nguyễn Danh Đ đi làm để xe ngoài cánh đồng . Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì số 20/2018 ngày 25/5/2018 kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu đen 128 G đã qua sử dụng trị giá 14.000.000 đồng; Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Vì số 50/2018 ngày 07/8/2018 kết luận: 01 chiếc xe máy Wave anpha, loại xe nữ, màu sơn xanh đen, số máy 6013309, số khung 090226Y013288, BKS 93H4-9538 đã qua sử dụng trị giá 6.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo H trộm cắp được là 20.000.000đ. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì truy tố bị cáo Nguyễn Danh H về tộ i : “ Trộm cắp tài sản ” theo Khoản 1 Điề u 173 - Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đú ng ngườ i, đú ng tộ i, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi lợi dụng sơ hở của người bệnh đang điều trị, cấp cứu tại bệnh viện do ốm đau, bệnh tật và đang truyền nước anh Chu Văn V đang sặc điện thoại để ở đầu giường ngủ, cũng như anh Nguyễn Văn Đ đi làm ruộng để xe ở cánh đồng không có sự trông coi bị cáo H đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút thực hiện hành vi trộ m cắ p chiếm đoạt tài sản gồm 01 điện thoại và 01 xe máy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, an ninh địa phương, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong nhân dân. Do vậ y cầ n phả i xử phạ t bị cá o H với mứ c á n nghiêm khắ c để giáo dục riêng và phòng ngừa chung .

Tuy nhiên, khi lượng hình, ngoài hành vi, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủcác tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố đẻ bị cáo có tham gia kháng chiến chống Mỹ tại nước bạn Lào, được Nước Lào tặng thưởng giấy khen có công với cách mạng Việt Lào . Do vậy bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điể m s khoản 1; Khoản 2 Điều 51 – BLHS 2015;

Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã 02 lần phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo Điểm g Khoản 1 Điều 52 – BLHS 2015.Bị cáo H có nhân thân xấu,Ngày 17.02.2016 UBND xã Minh Châu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đã phạt tiền 2.000.000 đồng. Bị cáo H đã nộp tiền phạt xong ngày 17.02.2016.

Nên khi lượng hình HĐXX cân nhắc đối với bị cáo . Như vậy bị cáo H không có ý thức rèn luyện bản thân để trở thành một công dân có ích cho xã hội đã lao vào con đường phạm tội do vậy cần thiết phải áp dụng Điều 38 BLHS cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức sâu sắc hành vi phạm tội của mình, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm nói chung. Ngoài hình phạt chính, khoản 5 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015, còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000,đ đến 50.000.000,đ. Xét bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn,không có khả năng thi hành hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Đối với anh Nguyễn Minh T: sau khi mua được chiếc điện thoại Iphone 7 Plus của bị cáo Hào với giá 1.500.000 đồng, anh Tú đã bán lại chiếc điện thoại cho Nguyễn Việt D, ở thị trấn Tây Đằng với giá 4.700.000 đồng, sau đó anh D đổi chiếc điện thoại trên cho anh Phạm Ngọc Đ2, ở Hai Bà Trưng- Hà Nội lấy 01 chiếc Iphone 6 Plus. Anh Đ2 sau khi đổi được điện thoại thì Đ2 đưa chiếc Iphone 7 Plus cho chị gái là Phạm Thị Thùy L, ở Hai Bà Trưng- Hà Nội sử dụng. Trong quá trình mua bán, sử dụng chiếc điện thoại Iphone 7 Plus nói trên, anh T, D, Đ2 và chị Linh không biết nguồn gốc chiếc điện thoại là do vi phạm pháp luật mà có. Do vậy, CQĐT không đề cập xử lý trong vụ án này là hoàn toàn có căn cứ . Nên HĐXX không xét . Về phần dân sự :Anh Chu Văn V, Nguyễn Danh Đ, Nguyễn Minh T, Nguyễn Việt D, Phạm Ngọc Đ2 và chị Phạm Thị Thùy L đều không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự . Nên HĐXX không xét . Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điề u 47 – BLHS 2015 ; Điều 106 BLTTHS năm 2015 .

Giữ nguyên kèm theo hồ sơ : 01 USB nhãn hiệu Tosiba, màu trắng, dung lượng 4G chứa dữ liệu 02 video thu được từ Camera của Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì giao nộp; CQĐT đã niêm phong và chuyển cùng hồ sơ ( Có thống kê số BL 284 và 285 tại hồ sơ vụ án) . Buộc bị cáo H phải truy thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền 1.500.000,đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), bán 01 chiếc điện thoại đã chiếm đoạt của anh Chu Văn V là tài sản thu lời bất chính do phạm tội mà có . Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Xét hồ sơ vụ án, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều được thực hiện có căn cứ pháp luật, không có khiếu nại, tố cáo. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên là hợp pháp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1./Tuyên xử:Bị cáo Nguyễn Danh H phạm tội: “Trộ m cắ p tài sản”. 2./ Căn cứ Khoản 1 Điều 173;Điể m s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51;Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38-Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.; Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H. 3./ Về dân sự : Anh Chu Văn V, Nguyễn Danh Đ, Nguyễn Minh T, Nguyễn Việt D, Phạm Ngọc Đ2 và chị Phạm Thị Thùy L đều không có yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự . Nên HĐXX không xét . 4./ Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điề u 47 – BLHS 2015 ; Điều 106 BLTTHS năm 2015 .

Giữ nguyên kèm theo hồ sơ : 01 USB nhãn hiệu Tosiba, màu trắng, dung lượng 4G chứa dữ liệu 02 video thu được từ Camera của Bệnh viện đa khoa huyện Ba Vì giao nộp; CQĐT đã niêm phong và chuyển cùng hồ sơ ( Có thống kê số BL 284 và 285 tại hồ sơ vụ án) . Buộc bị cáo H phải truy thu nộp sung công quỹ Nhà Nước số tiền 1.500.000,đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), là tài sản thu lời bất chính do phạm tội mà có. 5./Về á n phí:Bị cáo Nguyễn Danh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 6./Quyền kháng cáo:Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những ngườibị hại vắng mặt tại phiên tòa cóquyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáovề phần quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Cỡ chữ