vanban.org

Bản án 02/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Minh T và Lê Quốc Đ phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 58 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 ; khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Minh T 18 (mười tám) tháng tù. Hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/11/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh T và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Minh T và Lê Quốc Đ phạm tội “trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƯỚC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/HSST
Ngày 23 tháng 01 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC – TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bµ TrÇn ThÞ Quyªn. C¸c Héi thÈm nh©n d©n :

1. ¤ng Cao Xuân Bằng

2. Bà Lê Thị Hiền

Th

ký ghi biªn b¶n phiªn toµ: Bà Nguyễn Hải Vân, Th ký Tßa ¸n, Toµ ¸n

nh©n d©n huyÖn B T , tØnh Thanh Ho¸.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn B T tham gia phiªn toµ:

Ông Hà Văn Quyển: KiÓm s¸t viªn.

Ngµy 23 th¸ng 01 n¨m 2019, t¹i trô së Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn B T, tØnh Thanh Hãa; XÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 01/2019/HSST ngµy 04/01/2019.

§èi víi các bÞ c¸o:

1.Vũ Minh T Sinh n¨m 1981; Giới tính : Nam

N¬i c tró: Phố 4, thị trấn C N, huyÖn B Tc, tØnh Thanh Hãa.

NghÒ nghiÖp: LĐTD; Tr×nh ®é v¨n ho¸: 12/12.

D©n téc: Kinh; T«n gi¸o: Kh«ng; Quèc tÞch: ViÖt Nam.

Con «ng: Vũ Anh D (đã chết) và bà Vũ Thị H (đã chết)

Bị cáo T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2018 đến nay.

Chưa có vợ con.

Gia ®×nh cã ba chị em bị cáo là con út

Tiền án : Không

Tiền sự : Không

Nhân thân: Tại bản án số 06/2005/HSST Ngày 26 tháng 04 năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện N C xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo về tội “ Gây rối trật tự công cộng”

Tại bản án số: 299/2006/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2006 bị Tòa án tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt với bản án tù số: 06/2005/HSST đã cho hưởng án treo. Hình phạt tổng hợp là tháng tù 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “ tội gây rối trật tự công cộng”

Phần án phí của bản án số: 299 đã chấp hành xong năm 2008, phần hình phạt của hai bản án chấp hành xong ngày 25/11/2012.

Ngày 13/8/2010 được miễn án phí của bản án 06/2005/HSST.

2.Lê Quốc Đ Sinh n¨m 1976; Giới tính : Nam

N¬i c tró: Phố 2, xã L X , huyÖn B T , tØnh Thanh Hãa.

NghÒ nghiÖp: LĐTD; Tr×nh ®é v¨n ho¸: 6/12.

D©n téc: Kinh; T«n gi¸o: Kh«ng; Quèc tÞch: ViÖt Nam.

Con «ng: Lê Quốc Đ (đã chết) và bà Vũ Thị N (đã chết)

Bị cáo Đ tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2018 đến nay.

Chưa có vợ con.

Gia ®×nh cã hai người con bị cáo là con đầu.

Tiền án : Không

Tiền sự: có 02(hai) tiền sự :

- Ngày 10/5/2016 bị Công an huyện B T xử phạt hành chính về hành vi “ sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) chưa thi hành.

Ngày 20/6/2016 bị Công an huyện B T xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) chưa thi hành.

Bị cáo Đ tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2018 đến nay.

Ng êi bÞ h¹i :

1. Anh Trịnh Văn T sinh năm 1985( vắng mÆt).

Nơi cư trú : Phố 1, xã L X , huyện B T , tØnh Thanh Hãa.

Ng êi cã quyÒn lîi nghÜa vô liªn quan :

1. Anh Bùi Văn T sinh n¨m 1982( vắng mÆt).

Nơi cư trú : Thôn T , xã L X , huyện B T , tỉnh Thanh Hóa.

2.Anh Vũ Văn T

sinh năm 1989( vắng mÆt).

Nơi cư trú : Phố 4, thị trấn C N , huyện B T , tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng: Anh Bùi Văn T sinh ngày 1989 ( vắng mặt)

Nơi cư trú : Thôn T , xã L X , huyện B T , tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n vµ diÔn biÕn t¹i phiªn tßa, néi dung vô

¸n ® îc tãm t¾t nh sau:

Ngày 31/10/2018 T mượn xe HONDA Wave màu đen-bạc BKS36B1-94044 của Vũ Văn T (anh trai) chở Đ đi chơi. Đến 2 giờ sáng ngày 01/11/2018 trên đường quay về đến khu vực xưởng cán tôn nhà anh T ở phố 1, xã L X thấy có những tấm tôn xốp để cạnh lề đường. T rủ Đ lấy mang đi bán, Đ đồng ý. T và Đ lấy 14 tấm tôn xốp màu đỏ chở làm 03 chuyến, dịch chuyển bằng cách để các tấm tôn xốp lên yên xe, T điều khiển xe chở Đ ngồi phía sau giữ các tấm tôn mang lên nhà anh Bùi Văn T ở thôn T , xã L X . Khi bán các bị cáo nói là tôn làm nhà còn thừa. Đ và T bán cho anh T 14 tấm tôn được 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng). Anh T mua được tôn thì cất ở khu chuồng lợn nhà anh Bùi Văn T (em trai Tình) cùng thôn T , xã L X .

Ngày 02/11/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công huyện B T đã lập biên bản tạm thu giữ 14 tấm tôn xốp, màu đỏ tại nhà anh Bùi Văn T . Thu giữ xe honda BKS: 36B1-940.44 để phục vụ điều tra.

Tại bản định giá ngày 06/11/2018 Hội đồng định giá UBND huyện B T đã kết luận 14 tấm tôn xốp màu đỏ, có diện tích là 46,872m2 chưa qua sử dụng có giá trị 5.625.000đ.

Ngày 07/11/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B T đã trả xe honda Wave anpha BKS 36B1-940.44 cho chủ sở hữu là anh Vũ Văn T ( anh trai bị cáo T Và trả 14 tấm tôn cho người bị hại anh Trịnh Văn T, anh T không yêu cầu gì khác.

Trách nhiệm dân sự : Anh Bùi Văn T trình bày trong bản tự khai không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 700.000đ anh T đã bỏ ra mua 14 tấm tôn xốp màu đỏ.

T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè: 01/CT-VKSBT-KT ngµy 03/01/2019 VKSND huyÖn B T ®· truy tè các bị cáo vÒ téi "trém c¾p tµi s¶n" theo kho¶n 1 §iÒu 173 BLHS.

Tại phiên tòa các bị cáo Vũ Minh T khai nhận hành vi phạm tội như đã truy tố và nói lời sau cùng “ không còn gì để nói”. Bị cáo Lê Quốc Đ tại phiên tòa thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tỏ ra rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS tuyên bố các bị cáo Vũ Minh T và Lê Quốc Đ phạm tội “ trộm cắp tài sản”. Đề nghị cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 17 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Minh T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quốc Đ từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù.

Các bị cáo đều không có thu nhập ổn định thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo nên đề nghị HĐXX không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo HĐXX nhận định như sau;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện các hành vi tố tụng và ban hành các Quyết định tố tụng đúng, đủ, chính xác về thẩm quyền, trình tự tố tụng theo quy định của BLTTHS năm 2015.

[2.] Về nội dung vụ án: Có căn cứ xác định sáng ngày 01/11/2018 Vũ Minh T và Lê Quốc Đ đã có hành vi lén lút dịch chuyển tài sản của người khác ra khỏi nơi cất dấu gồm 14 tấm tôn xốp màu đỏ trị giá 5.625.000đ mang đi bán được 700.000đ lấy tiền tiêu xài. Đủ cơ sở kết luận các bị cáo Vũ Minh T và Lê Quốc Đ phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173BLHS.

Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện B T truy tố các bị cáo Vũ Minh Tvà Lê Quốc Đ về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Nhận định về tư cách tham gia tố tụng và vai trò các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Vũ Minh T là người khởi xướng và Lê Quốc Đ đã đồng tình cùng thực hiện hành vi lén lút dịch chuyển tài sản của người khác ra khỏi nơi cấu dấu. Đạo đã cùng tham gia giúp sức tích cực cho bị cáo T trong quá trình dịch chuyển tài sản ra khỏi nơi cất dấu và cùng mang đi bán, cùng nhau hưởng thụ. Bị cáo T giữ vai trò khởi xướng nên khi quyết định hình phạt HĐXX sẽ cân nhắc hình phạt đối với T nghiêm khắc hơn với

Đối với anh Trịnh Văn T là người bị mất tài sản nên tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại. Anh T vì không biết tài sản trộm cắp nên đã mua 14 tấm tôn của các bị cáo. Khi bị cáo T hỏi anh T mượn xe nói là đi chơi, anh T không biết việc bị cáo đã dùng xe để trộm cắp nên anh T và anh T tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Sau khi mua các tấm tôn của các bị cáo anh T cất ở phía sau vườn của gia đình anh T, anh T không biết việc mua bán giữa các bên nên anh T tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Quá trình điều tra truy tố bị cáo Vũ Minh T đều đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lê Quốc Đ khai nhận thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi của mình đây là hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS.

HĐXX xét thấy bị cáo T đã có hai lần bị xét xử về tội “gây rối trật tự công cộng và tội “tàng trữ trái phép chấp ma túy”. Sau khi chấp hành xong toàn bộ các bản án đã được xoa án tích nhưng lại phạm tội và bị đưa ra xét xử. Đối với bị cáo Đ có hai tiền sự chưa chấp hành lại phạm tội nên cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ để các bị cáo cải tạo trở thành người tốt.

Về hình phạt bổ sung : Các bị cáo đều thuộc diện nghèo và cận nghèo, không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã trả lại cho người bị hại là anh T. Xe máy đã trả lại cho anh T. Anh T không yêu cầu các bị cáo bồi thường 700.000đ đã bỏ ra mua 14 tấm tôn, không ai yêu cầu gì khác nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Các tài sản trộm cắp sau khi thu hồi được, cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật,

Về án phí : Mỗi bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000đ theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Minh T và Lê Quốc Đ phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 58 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 ; khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Vũ Minh T 18 (mười tám) tháng tù. Hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/11/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 58; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc Đ 16 ( mười sáu) tháng tù. Hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/11/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

VÒ ¸n phÝ: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 quy định vê mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 và mục 1 phần I Danh mục mức án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết 326/2016/PL-UBTVQH14

Bị cáo Vũ Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Quốc Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm có mặt các bị cáo, vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Các bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận án sơ thẩm hoặc ngày niêm yết án sơ thẩm tại nơi cư trú sinh sống của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. N¬i nhËn:

TM. héi ®ång xÐt xö

- VKSND cïng cÊp;

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

- THA D©n sù ;

- Phßng gi¸m ®èc ¸n ;

- C«ng an ;

- bÞ c¸o,...;

- Luu hå s¬;

TrÇn ThÞ Quyªn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ