- Tranh chấp gì? án hình sự — "Khoàng Văn N - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khoàng Văn N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY TỈNH ĐIỆN BIÊN ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HS-ST Ngày 09 tháng 4 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Lịch.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Lò Văn Hưng - Nguyên bí thư thị đoàn Mường Lay, tỉnh Điện Biên.
2. Ông: Điêu Văn Sáng - Hội người cao tuổi phường Na Lay, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.
Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương- Thư Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát thị xã Mường Lay, t nh Điện i n tham gia phiên tòa:
Ông: Nguyễn Ngọc Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2019 tại tr s Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th l số 03/2019/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Khoàng Văn N;
Tên gọi hác: Không.
Sinh năm: 1981 tại thị xã M, tỉnh Điện Biên.
Nơi đăng HKTT: Bản L, xã V, thị xã M, tỉnh Điện Biên.
Tạm trú: Tổ 6, phường S, thị xã M, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Không.
Trình độ văn hóa: Không;
Dân tộc: Thái;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: không;
Tiền án: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Tiền sự: Ngày 25/4/2017 Tòa án nhân dân thị xã M quyết định áp d ng biện pháp xử l hành chính đưa vào cơ s giáo d c bắt buộc 12 tháng.
Con ông: Khoàng Văn Đ -
Đã chết;
Con bà: Lò Thị S
- Sinh năm: 1962;
Vợ: Hoàng Thị L
- Sinh năm: 1979;
Bị cáo có 01 người con 18 tuổi;
Gia đình bị cáo có 05 anh chị em. Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Cháu Lò Thị Hải H - Sinh ngày: 12 tháng 7 năm 2003.
Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. (có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Cháu Lù Hải L - Sinh ngày: 01 tháng 01 năm 2008.
Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. (có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện của bị hại Lò Thị Hải H là người dưới 18 tuổi và Người làm chứng Lù Hải L là người dưới 18 tuổi: Chị Lò Thị X - Sinh năm: 1995.
Nơi cư trú: Bản M, xã V, thị xã M, tỉnh Điện Biên.
(có mặt tại phiên tòa).
- Nh ng người c quy n l i ngh a v liên quan:
1. Anh Lò Văn Q - Sinh năm: 1984.
Nơi cư trú: Bản L, xã V, thị xã M, tỉnh Điện Biên.
(có mặt tại phiên tòa).
2. Anh Đặng Duy T - Sinh năm: 1974.
Nơi cư trú: Bản L, xã V, thị xã M, tỉnh Điện Biên.
(vắng mặt tại phiên tòa c đơn xin vắng mặt).
3. Chị Hoàng Thị Lai - Sinh năm: 1979.
Nơi cư trú: Tổ 6, phường S, thị xã M, tỉnh Điện Biên.
(có mặt tại phiên tòa).
- Người bảo vệ quy n và l i ích h p pháp của bị hại: Bà Trần Thị S - Sinh năm: 1984; là trợ giúp viên pháp l - Trung tâm trợ giúp pháp l Nhà nước tỉnh Điện Biên.
(vắng mặt tại phiên tòa c đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 24/11/2018 tại Km96 Quốc lộ 12 thuộc bản B, xã V, thị xã M, tỉnh Điện Biên. Lợi d ng sự mất cảnh giác của chủ s hữu Khoàng Văn N đã dùng thủ đoạn nguy hiểm cướp giật tài sản của cháu Lò Thị Hải H. Đó là chiếc túi xách của cháu H đang đeo trên người, bên trong có: 1.080.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37, 01 thẻ điện thoại mệnh giá 20.000đ và một số giấy tờ hác.
Tại bản ết luận giám định pháp y về thương tích số: 219/TgT ngày 25 tháng 12 năm 2018 của trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tai nạn giao thông gây nên cho Lò Thị Hải H là 9% (Chín phần trăm).
Tại bản ết luận định giá tài sản số 661/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự thị xã M ết luận:
- Giá trị tài sản tại thời điểm định giá: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A37, màn hình cảm ứng bị vỡ. Giá trị thời điểm định giá là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng chẵn).
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 20/02/2019 của VKSND thị xã M đã truy tố Khoàng Văn N về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g hoản 2 Điều 171 của Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện iểm sát thực hành quyền công tố luận tội và tranh t ng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản. Dó đó Viện iểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Khoàng Văn N về tội: Cướp giật tài sản.
Đề nghị HĐXX áp d ng: điểm d, g hoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Khoảng Văn N với mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.
Ngoài ra, vị đại diện Viện iểm sát nhân dân thị xã M còn đề nghị với hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo với người bị hại; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố t ng.
Tại phiên tòa, người bị hại cháu Lò Thị Hải H và người đại diện cho cháu Lò Thị Hải H là chị Lò Thị X (thím ruột của cháu) đề nghị HĐXX: áp d ng một hình phạt nghiêm hắc với bị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường cho cháu H với số tiền: 16.245.000đ (Mười sáu triệu hai trăm bốn mươi năm nghìn đồng).
Tại bản luận cứ bảo vệ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị S cũng đã đề nghị với HĐXX áp d ng một hình phạt nghiêm hắc và buộc bị cáo phải bồi thường cho cháu H số tiền là: 16.245.000đ (Mười sáu triệu hai trăm bốn mươi năm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an thị xã M, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân thị xã M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người đại diện của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan, người làm chứng hông có người nào có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Khoàng Văn N đã hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung mà bản cáo trạng của Viện iểm sát nhân dân thị xã M đã công bố. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ được cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ v án như: Đơn trình báo, lời hai của người bị hại, lời hai của người làm chứng, lời hai của những người liên quan cùng toàn bộ lời hai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra.
Do đó có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 12 giờ ngày 24/11/2018, Khoàng Văn N đi xe máy từ tổ 6, phường S đi theo hướng vào xã V, thị xã M với m c đích nếu có ai sơ h trong quản l tài sản thì chiếm đoạt. Khi đến hu vực bản B, xã L, Nhan thấy một người ph nữ đi xe máy ch theo một bé trai phía trước cùng chiều. N vượt lên trước thì phát hiện người ph nữ đó đang đeo 01 chiếc túi phía trước b ng. Thấy vậy, N nảy sinh định cướp giật chiếc túi đó. N đi đến hu vực H, xã V, lúc này đó hông có người qua lại, N đi xe chậm lại. Khi người ph nữ đó đi ngang với N, N bảo người đó dừng lại và hỏi đường. Khi thấy người đó đi chậm lại thì N giật chiếc túi xách đó rồi bỏ chạy. Khoàng Văn N đi qua cầu Tạo Sen sang đường tỉnh lộ 142 rồi đi qua cầu N – C đi lên quốc lộ 12. Khi đến bản H phường N, N dừng xe ven đường và đi vào trong một he nước m túi để iểm tra tài sản thì thấy bên trong có: 1.080.000đ (Một triệu hông trăm tám mươi nghìn đồng); 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu trắng; 01 đăng xe máy; 01 giấy bảo hiểm xe máy và 01 thẻ nạp điện thoại mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng). N lấy số tiền đó đút vào túi quần của N và cho điện thoại cùng với giấy tờ vào trong túi xách dùng dây đeo cuộn lại rồi mang ra để chân cột báo hiệu giao thông ven đường. Sau đó N về nhà tổ 6, phường S, thị xã M c i bỏ áo khoác, thay quần và mũ bảo hiểm với m c đích tránh bị phát hiện. Còn cháu Lò Thị Hải H do bị mất tài sản nên đã điều hiển xe máy đuổi theo dẫn đến bị ngã gây thương tích gối trái và phải nằm viện điều trị từ ngày 24 tháng 11 năm 2018 đến ngày 03 tháng 12 năm 2018 với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 09% (Chín phần trăm).
Khi có được số tiền cướp được, N đi xe máy đến cây xăng N mua xăng hết 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng), mua một xi lanh hiệu thuốc 5.000đ (Năm nghìn đồng) rồi N đi xuống xã M, huyện M để tìm mua ma túy để sử d ng. Khi đến bản X, xã V thì gặp Lò Văn Q, N rủ Q đi cùng, Q đồng . Khi đến hu vực xã M, N mua 01 tép Heroine của một người hông rõ lai lịch hết 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Nvà Q đến hu vực bản C5 , xã M chia đôi số Heroine và cả hai cùng sử d ng hết. Sau đó, N ch Q đến một quán ven đường mua một bao thuốc lá hết 10.000đ (Mười nghìn đồng), rồi ch Q đến bản X, xã V để Q về nhà. Sau đó, N mua một chai nước ngọt của anh Đặng Duy T bản L, xã V hết 10.000đ (Mười nghìn đồng) và đi về. Khi đi đến hu vực N, phường N thì Khoàng Văn N bị Cơ quan công an thị xã M bắt giữ và thu giữ số tiền: 825.000đ (Tám trăm hai mươi năm nghìn đồng).
Như vậy, hành vi của bị cáo đi xe máy cướp giật lấy tài sản của người hác mà người bị hại là cháu Lò Thị Hải H sinh ngày: 12/7/2003 là người dưới 16 tuổi: Dó đó hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d, g hoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Điểm d, g hoản 2 Điều 171 của Bộ Luật hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường h p sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm; g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, ph n mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;”
Vì vậy, Viện iểm sát nhân dân thị xã M truy tố bị cáo: Khoàng Văn N về tội: Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d, g hoản 2 Điều 171 BLHS là hoàn toàn chính xác, đúng người đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Trong hồ sơ v án còn thể hiện một số đối tượng liên quan như: Lò Văn Q đi cùng N để sử d ng ma túy nhưng Q hông biết tiền N dùng để mua ma túy là tiền do N đi cướp giật được. Q cũng là đối tượng nghiện hút Cơ quan điều tra hông đề cập để xử l đối với Lò Văn Q nên HĐXX hông đặt vấn đề xem xét.
Đối với anh Đặng Duy T là người đã bán nước ngọt cho Khoàng Văn N, anh T hông biết tiền đó do N cướp giật mà có, anh T đã tự nguyện nộp lại 10.000đ (Mười nghìn đồng) cho Cơ quan điều tra và hông yêu cầu N bồi thường số tiền đó. Vì vậy, HĐXX cũng hông đặt vấn đề để xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô Honda BLADE biển iểm soát: 27X1-019.30 Khoàng Văn N dùng làm phương tiện phạm tội là xe của chị Hoàng Thị L (Vợ Khoàng Văn N). Khi N sử d ng xe làm phương tiện phạm tội thì chị L không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ s hữu là chị Hoàng Thị L. HĐXX xét thấy là phù hợp.
Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi cướp giật tài sản của người dưới 16 tuổi của bị cáo Khoàng Văn N là rất nguy hiểm, nó trực tiếp xâm phạm đến quyền s hữu tài sản của người hác, ảnh hư ng đến trật tự trị an và an toàn của xã hội trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng và sự bất bình trong quần chúng nhân dân, làm cho người dân thiếu an tâm lao động sản xuất. Xét tính chất v án là nghiêm trọng. Do đó việc áp d ng một hình phạt nghiêm đối với bị cáo là cần thiết, nhằm cải tạo giáo d c riêng và phòng ngừa chung tội phạm, nhằm giữ nguyên ỷ cương pháp luật của Nhà nước.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo :
- Bị cáo Khoàng Văn N tuy xuất thân từ gia đình sản xuất nông nghiệp, thành hẩn hai báo tội lỗi của mình trước cơ quan pháp luật, xong bị cáo là người có nhân thân xấu, nghiện ma túy đã bị áp d ng biện pháp xử l hành chính đưa vào cơ s giáo d c bắt buộc 12 tháng ể từ ngày 25/4/2017. Sau khi về địa phương bị cáo hông chịu tu dưỡng rèn luyện để từ bỏ con đường phạm tội. Nay lại tiếp t c phạm tôi. Do đó cần phải áp d ng hình phạt có tời hạn, mới đủ điều iện để cải tạo giáo d c bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành hẩn hai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét bị cáo được áp d ng điểm s hoản 1 Điều 51 BLHS.
V trách nhiệm dân sự:
Người bị hại là cháu Lò Thị Hải H và người đại diện của người bị hại là chị Lò Thị X, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 16.245.000đ (Mười sáu triệu hai trăm bốn mươi năm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo Khoàng Văn N đồng tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền mà người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị tổng số tiền là 16.245.000đ (Mười sáu triệu hai trăm bốn mươi năm nghìn đồng). Đây là yêu cầu bồi thường chính đáng của cháu Lò Thị Hải H đối với thiệt hại mà bị cáo đã gây ra về tài sản bị mất, tổn hại sức hỏe, chi phí hợp l về việc cứu chữa, chăm sóc thương tích. Lời đề nghị này là hoàn toàn có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Do đó, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo cho bị hại là cháu: Lò Thị Hải H mà người đại diện của cháu Lò Thị Hải H là chị: Lò Thị X (thím ruột của cháu Hà).
Những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan hông yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử hông đặt vấn đề xem xét.
V vật chứng: Áp d ng hoản 1 Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Vật chứng của v án bao gồm: 01 Áo hoác màu nâu đã qua sử d ng, 01 quần bò đen đã qua sử d ng vị trí gối trái có vết thủng ích thước hoảng 01x01cm, 01 mũ bảo hiểm màu xanh, loại mũ nửa đầu có ính trắng trong đã qua sử d ng. Tất cả các vật chứng trên hông còn giá trị sử dung cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: Căn cứ hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; và điểm a, c hoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 812.250đ (Tám trăm mười hai nghìn hai trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Về quyền háng cáo: Áp d ng Điều 331, hoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm d, g hoản 2 Điều 171; điểm s, hoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS;
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khoàng Văn N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Khoàng Văn N 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù ể từ ngày 24/11/2018.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Áp d ng hoản 1 Đều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 590 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Khoàng Văn N, bị cáo tự nguyện bồi thường cho cháu Lò Thị Hải H (Người đại diện của cháu H là chị Lò Thị X), các hoản bồi thường bao gồm: Số tiền 245.000 đồng bị chiếm đoạt; giá trị một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37 1000.000 đồng; tiền viện phí, tiền công chăm sóc và chi phí làm lại đăng xe máy, mua bảo hiểm xe máy là 15.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo tự nguyện bồi thường cho cháu Lò Thị Hải H là: 16.245.000 đồng (Mười sáu triệu hai trăm bốn mươi năm nghìn đồng).
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại đi u 2 Luật thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quy n thỏa thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các đi u 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại đi u 30 Luật thi hành án dân sự.
[4]. Về vật chứng: Áp d ng hoản 1 Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy 01 áo hoác màu nâu đã qua sử d ng; 01 quần bò đen đã qua sử d ng vị trí gối trái có vết thủng ích thước hoảng 01x01cm; 01 mũ bảo hiểm màu xanh, loại mũ nửa đầu có ính trắng trong đã qua sử d ng.
Toàn bộ vật chứng v án hiện đang đư c bảo quản tại Chi c c Thi hành án Dân sự thị xã M,tỉnh Điện Biên; theo biên bản bàn giao vật chứng gi a Cơ quan cảnh sát đi u tra Công an thị xã M và Chi c c thi hành án dân sự thị xã M ngày 20/02/2019.
[5]. Căn cứ hoản 2 Điều 135, hoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; và điểm a, c hoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 812.250 đồng (Tám trăm mười hai nghìn hai trăm năm mười đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[6]. Áp d ng Điều 331, hoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án ngày 09 tháng 4 năm 2019. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA TAND tỉnh Điện Biên; - Phòng HCTP-STP tỉnh Điện Biên; - Phòng PC81-CA tỉnh Điện Biên; - Viện kiểm sát nhân dân thị xã M; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS- CA thị xã M; - Đội đi u tra CA thị xã M ; - Chi c c THA dân sự thị xã M; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người bảo vệ quy n và l i ích h p pháp của bị hại; - Người đại diện của bị hại; - Nh ng người c quy n l i ngh a v liên quan; - UBND xã V, thị xã M; - UBND phường S; - Lưu hồ sơ THA hình sự; - Lưu hồ sơ v án./. Các Hội thẩm nhân dân Lò Văn Hưng Điêu Văn Sáng | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ) Lò Văn Lịch HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lò Văn Lịch |