- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HS-ST Ngày 08 – 01 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thanh Liêm.
Ông Nguyễn Hoàng Kha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thúy Nguyên – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Văn Đa - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 247/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 889/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Thanh T, sinh năm 1989 tại Cà Mau; nơi cư trú: khóm 4, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Thanh H và bà Đỗ Ngọc H; vợ Nguyễn Thị Cẩm T, con chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 15/3/2011, bị Chủ tịch UBND thành phố C ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 24 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 20/4/2013. Ngày 18/11/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp án phí xong ngày 11/3/2014 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2015. Ngày 16/5/2016, bị Công an tỉnh Cà Mau xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.000.000đ, nộp phạt xong ngày 15/7/2016. Ngày 24/5/2016, bị Công an tỉnh Cà Mau vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.000.000đ, nộp phạt xong ngày 25/5/2016 đến nay đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 04/10/2018 đến ngày 07/10/2018 bị bắt, tạm giam cho đến nay (có mặt).
Bị hại:
- Ông Đỗ Đức H, sinh năm 1965; nơi cư trú: số 176, đường Phan Bội C, khóm A, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Bảo T1, sinh năm 1992; nơi cư trú: khóm 7, thị trấn Trần Văn T, huyện Trần Văn T, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 11/4/2018 đến ngày 18/4/2018, bị cáo Hồ Thanh T đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố C, tỉnh Cà Mau, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 11/4/2018, Hồ Thanh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SuZuki Viva màu xanh, biển số 51T3-3968 lưu thông trên đường Đề Thám thuộc khóm 4, phường 2, thành phố C khi đến cửa hàng Kiềm Nghĩa (nhà số 19), T phát hiện trên ba ga xe mô tô của chị Nguyễn Bảo T1 đậu dưới lòng lề đường có để một cái bọc nylon nhưng không có người trông coi, T nảy sinh ý định lấy bộc trên để bán tiêu xài cá nhân nên chạy đậu xe cặp sát xe của chị T1 rồi dùng tay trái lấy cái bọc trên chạy đến dốc cầu quay cũ thuộc phường 5, thành phố C thì dừng xe lại mở bọc ra xem và phát hiện trong bọc có 10 cái áo dài nữ, 10 cái mấn đội đầu làm tóc và 10 cái nơ, T không biết tiêu thụ ở đâu nên đưa cho Nguyễn Thị Ngọc Trinh để Trinh liên hệ với số điện thoại in sẳn trên bọc trả lại tài sản trên. Đối với chị T1, sau khi phát hiện bị mất số tài sản trên đã đến Công an phường 2 trình báo còn Trinh đã liên hệ và giao nộp số tài sản trên cho Công an phường 2, thành phố C.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 95/KL-HĐĐG ngày 22/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận tính vào thời điểm tháng 4/2018: 10 cái áo dài vải bằng lụa và 10 cái mấn đội đầu làm tóc có giá trị là 6.000.000đ (600.000đ/bộ); 10 cái nơ có giá trị là 150.000đ (15.000đ/cái). Tổng cộng là 6.150.000đ (sáu triệu một trăm năm chục nghìn đồng).
Vụ thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 18/4/2018, T đi bộ đến trước Cửa hàng xe máy Đ thuộc đường Nguyễn Tất Thành, khóm 1, phường M, thành phố C phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Dream mang biển số 69C1-183.57 của ông Đỗ Đức H gửi tại Cửa hàng để sửa chữa có gắn chìa khóa trên xe, Tín quan sát thấy không có người trông coi nên đến mở khóa, quay đầu xe điều khiển xe chạy về hướng xã Lý Văn Lâm, thành phố C. Sau đó, chạy về đường Trương Phùng Xuân đi phà qua đường Lý Văn Lâm thuộc phường 1, thành phố C để cất giấu chiếc xe trên. Đến 16 giờ 10 phút cùng ngày, ông H đến lấy xe thì phát hiện xe bị mất. Qua kiểm tra hình ảnh do Camera ghi lại được, thể hiện tại thời điểm 16 giờ 04 phút 15 giây ngày 18/4/2018 có 01 thanh niên mặc đồ thể thao màu cam, quần ngắn, đội mũ bảo hiểm màu trắng, đeo khẩu trang màu sáng lấy trộm chiếc xe trên nên ông H đến Công an phường 8 trình báo đến khoảng 12 giờ ngày 22/4/2018, T điều khiển xe trên đến tiệm sửa xe Út để tháo biển số xe ra bỏ và gắn vào biển số xe 36R9-0731 để sử dụng. Trên đường đi đến hẽm Bình Minh thuộc khóm 2, phường 8, thành phố C thì bị Công an phường 8 mời và tạm giữa xe trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 81/KL-HĐĐG ngày 27/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: tính vào thời điểm tháng 4/2018, 01 xe mô tô hiệu Dream biển số 69C1-183.57 màu nâu giá trị còn lại 20%, có trị giá là: 20.000.000đ x 20% = 4.000.000đ (bốn triệu đồng).
Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 19/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Hồ Thanh T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội trộm cắp tài sản. Đồng thời, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự, chị T1 và ông H đã nhận lại tài sản, hiện không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét; Về vật chứng, tịch thu tiêu hủy biển số xe 36R9-0731. Đối với bị cáo, thừa nhận hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã mô tả, không oan sai và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Đối với chị T1, ông H quá trình điều tra đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Với hành vi đã thực hiện và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy: Xuất phát từ lối sống buông thả, lười biếng lao động nên vào các ngày 11/4/2018 và ngày 18/4/2018, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản nên đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 10 cái áo dài vải bằng lụa, 10 cái mấn đội đầu làm tóc, 10 cái nơ của chị Nguyễn Bảo T1 tại trước Cửa hàng Kiềm Nghĩa thuộc số 19, đường Đề Thám, khóm 4, phường 2, thành phố C có giá trị là 6.150.000đ và 01 xe mô tô hiệu Dream biển số 69C1-183.57 màu nâu của ông Đỗ Đức H tại Cửa hàng xe máy Đ thuộc đường Nguyễn Tất Thành, khóm 1, phường M, thành phố C có giá trị 4.000.000đ, tổng giá trị các tài sản bị chiếm đoạt là 10.150.000đ (mười triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Lời khai nhận trên của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cùng với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật ngăn cấm nhưng vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo đã bị Tòa án xử phạt tù, bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần thế nhưng khi trở về sống hòa nhập với cộng đồng, bị cáo không biết lo cải sữa bản thân, tu chí làm ăn để làm người công dân có ích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù, các lần bị xử phạt nêu trên không xem xét bị cáo có tiền án, tiền sự nhưng xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu. Hơn nữa, trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của các bị hại và thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội lần sau tinh vi, xảo quyệt hơn lần trước đều đó thể hiện bị cáo là người ngoan cố, xem thường pháp luật và mỗi lần lấy trộm tài sản trên của bị cáo đều đủ định lượng cấu thành tội trộm cắp tài sản nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần phải xử lý nghiêm và áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, sống có ích và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra trong xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết trên là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là phù hợp.
Với đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở chấp nhận
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Bảo T1, ông Đỗ Đức H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, thu giữ của bị cáo 01 biển số xe 36R9-0731. Qua kiểm tra, xác định được biển số xe trên được làm giả bởi không có dấu in nổi hình Quốc huy trên biển số xe. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhặt được biển số xe 36R9-0731 nên chưa có căn cứ xử lý hành vi trên của bị cáo, hiện biển số xe này không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Riêng các tài sản khác đã được xử lý trong quá trình điều tra, truy tố nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Qúa trình điều tra, bị cáo và bị hại cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng, chị Nguyễn Bảo T1 đã có đơn xin vắng mặt, riêng ông Đỗ Đức H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do và việc giải vắng mặt của chị T1, ông H không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hồ Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2018.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số xe 36R9-0731 thu giữ của bị cáo.
- Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng – chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại - VKSND Tp.Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - Cơ quan CSĐT Công an Tp.Cà Mau; - Cơ quan THA hình sự Tp.Cà Mau; - Cơ quan thi hành án dân sự Tp.Cà Mau; - Nhà tạm giữ CATp.Cà Mau; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Hoài Ân |