- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản do Ngô Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HS - ST Ngày 06 - 3 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Dư Thanh Nguyễn
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Hải Hưng
+ Ông Trịnh Hữu Hiệp
- Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Hoàng Anh - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Hên - kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn V, tên gọi khác: không; sinh ngày: 09/9/1999; nơi sinh: xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: ấp 6, xã N, huyện U, tỉnh C .; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Ngô Văn Ấm và bà Nguyễn Thị Xuân; bị cáo chưa vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt truy nã và tạm giữ từ ngày 22/10/2018 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt).
- Người bị hại: Anh Nguyễn Chí Hiếu, sinh năm 1979; Nơi cư trú: ấp 6, xã N, huyện U, tỉnh C . (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa. Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 29.12.2017, Ngô Văn V đi bộ ngang nhà anh Nguyễn Chí Hiếu thuộc ấp 6, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh thì phát hiện 01 (một) võ composite hiệu Kiên Giang dài 7.7 mét và 01 (một) máy Vanguard 6.0 HP đang đậu dưới mé sông trước nhà không khóa, không ai trông coi nên Vện nảy sinh ý định trộm tài sản, bán kiếm tiền tiêu sài cá nhân. Vện bước xuống võ máy mở dây buộc, bơi cách chỗ đậu ban đầu khoảng 50 mét thì khởi động máy chạy về hướng xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Khi đến gần nhà anh Trần Văn Thạch thuộc ấp 4, xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau thì máy hết xăng. Vện bơi vào cập mé sông trước nhà anh Thạch và kêu bán võ máy cho anh Thạch với giá 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng), anh Thạch đồng ý. Sau đó, anh Thạch điện thoại cho anh Nguyễn Thanh Quân ở ấp 3, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau bán lại võ máy trên. Do biết anh Hiếu đang cần mua võ máy cũ nên anh Quân chỉ cho anh Hiếu đến gặp anh Thạch để mua võ máy. Đến ngày 15.01.2018, anh Hiếu đến nhà anh Thạch, phát hiện võ máy anh Thạch định bán là tài sản anh Hiếu bị mất trộm vào ngày 29.12.2017 nên đã trình báo chính quyền địa phương đến lập biên bản sự việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG, ngày 02/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau kết luận: Tính vào thời điểm ngày 29.12.2017, giá trị: 01 (một) võ Composite hiệu Kiên Giang composite dài 7,7m là 1.908.220 đồng; 01 (một) máy Vanguard 6.0 HP (Model:117462) là 1.458.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 3.366.220 đồng (Ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi đồng).
Tang vật của vụ án: 01 (một) võ Composite hiệu Kiên Giang composite dài 7,7m; 01 (một) máy Vanguard 6.0 HP (Model: 117462) bên hông phải của võ có dán chữ Hiếu Thảo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh đã trao trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Chí Hiếu.
Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo Ngô Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn V từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Về bồi thường dân sự người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét; tang vật của vụ án đã trả lại cho người bị hại nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện U Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Ngô Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố bị cáo là đúng với hành vi của bị cáo, không oan sai và thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị ép buộc hay bị một tác động nào khác. Căn cứ kết quả khai báo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng của vụ án, từ đó có cơ sở khẳng định như sau: Vào khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 29.12.2017, tại mé sông trước nhà anh Nguyễn Chí Hiếu ở ấp 6, xã N, huyện U, tỉnh C ., Ngô Văn V đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) võ Composite hiệu Kiên Giang composite dài 7,7m và 01 (một) máy Vanguard 6.0 HP (Model: 117462) của anh Hiếu để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Theo kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG, ngày 02/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau với tổng giá trị là 3.366.220 đồng (Ba triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi đồng). Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội bị cáo Ngô Văn V phạm tội trộm cắp tài sản nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
Hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành đủ sức khỏe lao động kiếm tiền hợp pháp để tiêu xài nhưng do bản tính tham lam, lười lao động muốn hưởng thụ trên công sức của người khác mà không cần lao động nên chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cho cá nhân, khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo cần có một mức án tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân: Bị cáo Vện phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về nhân thân khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Văn V từ 06 tháng đến 09 tháng tù là có căn cứ và thỏa đáng.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Chí Hiếu đã nhận lại tài sản bị lấy trộm, không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) võ Composite hiệu Kiên Giang composite dài 7,7m; 01 (một) máy Vanguard 6.0 HP (Model: 117462) bên hông phải của võ có dán chữ Hiếu Thảo. Trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U Minh đã trao trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Chí Hiếu phù hợp với quy định của pháp luật nên không xem xét.
Về án phí: án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Ngô Văn V phải chịu 200.000 đồng. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Đối với Trần Văn Thạch: Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn V khai báo anh Thạch biết võ máy mà Vện bán cho anh do Vện trộm được mà có, vì trước đây anh Thạch có kêu Vện kiếm võ máy để trộm rồi bán lại cho anh Thạch. Cơ quan Điều tra tiến hành làm việc với anh Thạch nhưng anh Thạch không thừa nhận. Trong quá trình điều tra xác minh, chưa có chứng cứ chứng minh việc anh Thạch biết tài sản trên do phạm tội mà có. Hiện tại, anh Thạch đã bỏ địa phương đi, không rõ địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện U Minh tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn V 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 10 năm 2018.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Chí Hiếu đã nhận lại tài sản bị lấy trộm, không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: 01 (một) võ Composite hiệu Kiên Giang composite dài 7,7m; 01 (một) máy Vanguard 6.0 HP (Model: 117462) bên hông phải của võ có dán chữ Hiếu Thảo đã trao trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Chí Hiếu phù hợp với quy định của pháp luật nên không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Ngô Văn V phải chịu 200.000 đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng GĐ-KTNV TAND tỉnh Cà Mau (1b); - VKSND tỉnh Cà Mau (1b); - VKSND huyện U Minh (1b); - Công an huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (1b); - Nhà tạm giữ công an huyện U Minh (1b) - Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh(1b); - Bị cáo, người bị hại, (mỗi người 1b); - Lưu hồ sơ, văn thư (1b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dư Thanh Nguyễn |