- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Ghi nhận bị hại (bà Lê Thị Huỳnh N) đã nhận lại số tiền 8.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HS-ST Ngày 11-01-2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Kim Thanh;
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cƣơng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lang– Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị L, sinh năm 1973 tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R (chết) và bà Nguyễn Thị M; có chồng tên Lê Văn T (đã ly hôn); con có 01 người sinh năm 1992;tiền sự: Không có; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/HSST ngày 22/11/2000 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Thị L 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2001, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên chưa được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/10/2018, chuyển tạm giam ngày 25/10/2018 cho đến nay (có mặt).
Bị hại: Bà Lê Thị Huỳnh N, sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú: Ấp J, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú tại: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị L và Lê Thị Huỳnh N cùng phụ bán tại quán cà phê “T M” thuộc địa bàn ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 11/02/2018, sau khi ngủ dậy L nhìn thấy cái ví của bà N rớt trên giường ngủ cạnh chỗ bà N đang ngủ, thấy bên trong có nhiều tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lợi dụng lúc bà N đang ngủ, L dùng tay mở dây kéo ví và lấy được 8.000.000 đồng, L mang ra phía sau quán cà phê lấy 5.500.000 đồng dấu trong lỗ gạch ống trên vách tường, số tiền còn lại để trong túi quần của L. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, bà N thức dậy phát hiện mất tiền nên trình báo Công an xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Qua làm việc L đã thừa nhận hành vi trộm cắp và chỉ chổ cất dấu tiền trộm cắp cho Công an thu hồi. Quá trình điều tra L đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 22/10/2018 thì bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thị L khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.
- Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Số tiền thu giữ 8.000.000 đồng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu bà Lê Thị Huỳnh N.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSTC ngày 19/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận người bị hại bà Lê Thị Huỳnh N đã nhận lại số tiền 8.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi của bị cáo thể hiện: Vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 11/02/2018 tại quán cà phê” T M” thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh bị cáo Nguyễn Thị L đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 8.000.000 đồng của bà Lê Thị Huỳnh N.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân mình bị cáo vẫn cố tình thực hiện, do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.
Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo tái phạm là tính tiết tăng nặng quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhân không tốt, đã từng bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo cần xử phạt với mức án tù, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nữa mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: Bị hại (bà Lê Thị Huỳnh N) đã nhận lại số tiền 8.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 10 năm 2018.
2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Ghi nhận bị hại (bà Lê Thị Huỳnh N) đã nhận lại số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.
3.Về án phí:Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáovà bị hại biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H.Tân Châu; - CCTHA-DS H. Tân Châu; - CQĐT Công an H. Tân Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV27; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - THA phạt tù; - Lưu tập án, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Ngầu |