- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Đặng Ngọc S phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HS-ST Ngày 28- 02- 2019 Bản án số:...../.....(2)/HS-ST Ngày.....-.....-................... (3) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hồng Thái
Ông Niê Y Ling.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Đặng Ngọc S (tên gọi khác: S Đ) sinh năm 1989 tại Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Khu phố NQ, thị trấn HR, huyện SH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn) 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình K và bà Nguyễn Thị L; Vợ (Đã ly hôn); con: 01 con sinh năm 2012 hiện ở cùng mẹ; tiền án: Ngày 11/9/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh xử phạt 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 09 tháng 02 ngày về tội Đánh bạc. Ngày 18/11/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 08/10/2018, thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh ngày 06/12/2018. Có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Phòng giáo dục đào tạo huyện SH, tỉnh Phú Yên do ông Trần Đình N - Phó trưởng phòng làm đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 22/02/2019. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Bá T sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố M3, thị trấn HR, huyện SH, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Vợ chồng chị Đinh Thị Th sinh năm 1994, anh Châu Đình Nh (C) sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu phố M4, thị trấn HR, huyện SH, tỉnh Phú Yên. Đều có mặt.
Anh Đặng Ngọc Th, sinh năm 1972. Địa chỉ: Khu phố NQ, thị trấn HR, huyện SH, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 01/6/2018, Đặng Ngọc S vào khu tập thể của Phòng giáo dục huyện SH ở khu phố NQ, thị trấn HR, huyện SH để sử dụng ma túy. Thấy khu tập thể bỏ hoang không có người trông coi, S nảy sinh ý định trộm cắp các cánh cửa sắt bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Từ ngày 02/6/2018 đến ngày 05/6/2018, S điều khiển xe mô tô 78 M1-109.58 (do Đặng Ngọc Th là anh trai của S đứng tên chủ sở hữu) đến khu tập thể Phòng giáo dục huyện SH trộm cắp 05 lần 21 cánh cửa sắt đem bán cho các điểm thu mua phế liệu của anh Nguyễn Bá T 11 cánh cửa được 1.300.000đ và vợ chồng chị Đinh Thị Th 10 cánh cửa được 1.300.000đ, tổng cộng 2.600.000đ mua ma túy sử dụng. Công an thị trấn HR huyện SH phát hiện, thu hồi 21 cánh cửa sắt trả lại cho Phòng giáo dục huyện SH.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa:
Bị cáo Đặng Ngọc S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện nguyên đơn dân sự trình bày: Khu tập thể Phòng giáo dục huyện SH bị mất rất nhiều cánh cửa sắt gồm cửa đi, cửa sổ nhưng đến nay chỉ phát hiện và thu hồi được 21 cánh cửa do S trộm cắp. Đề nghị Hội đồng xét xử đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Bá T và vợ chồng anh Châu Đình Nh, Đinh Thị Th khai: S đem cánh cửa sắt đến bán, các anh, chị có hỏi thì S nói do sửa nhà nên bán, không ai biết tài sản đó là do trộm cắp mà có. Anh T và vợ chồng chị Th anh Nh không yêu cầu bị cáo trả lại tiền.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Ngọc Th khai: Xe mô tô biển số 78 M1-109.58 là của anh đứng tên sở hữu, anh thường đưa cho S sử dụng để đưa mẹ đi khám chữa bệnh còn việc S lấy xe đi rồi trộm cắp tài sản anh không biết. Cơ quan điều tra Công an huyện SH đã trả lại cho anh xe mô tô 78 M1-109.58. Anh không có yêu cầu gì.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐG ngày 25/12/2018 của Hội đồng định giá huyện SH kết luận: 21 cánh cửa sắt tại thời điểm định giá trị giá 6.582.000đ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản.
Vật chứng thu giữ: xe mô tô 78M1-109.58, 21 cánh cửa sắt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Hinh đã trả lại cho các chủ sở hữu.
Bản cáo trạng số 03/VKS-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo Đặng Ngọc S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 xử phạt: Đặng Ngọc S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam trước là 02 tháng.
-Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không ai yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.
-Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Hinh đã trả cho các chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về quyết định truy tố, quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Từ ngày 02/6/2018 đến ngày 05/6/2018, Đặng Ngọc S đã lén lút chiếm đoạt 21 cánh cửa sắt trị giá 6.582.000đ của Phòng giáo dục huyện SH. Trước đó, S đã có 02 tiền án và thuộc trường hợp tái phạm, chưa được xóa án tích, nay lại có hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53BLHS. Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS thì “2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 02 năm đến 07 năm:
g) Tái phạm nguy hiểm;”, như vậy hành vi của bị cáo S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo là đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo đủ năng lực pháp luật và hành vi, nhận thức được việc xâm phạm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do chơi bời lêu lổng, nghiện ngập ma túy nên đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu là khách thể được pháp luật bảo vệ, mặc dù quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS khi lượng hình, nhưng bị cáo đã có 02 tiền án, thể hiện sự bất chấp, coi thường pháp luật nên phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo.
Đối với Nguyễn Bá T, Đinh Thị Th, Châu Đình Nh và Đặng Ngọc Th, không đủ cơ sở kết luận là biết rõ bị cáo dùng xe của mình đi thực hiện tội phạm và tài sản bán cho mình là do trộm cắp nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Hinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Xe mô tô 78M1-109.58, 21 cánh cửa sắt Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Hinh đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 BLHS.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc S 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam trước từ ngày 08/10/2018 đến ngày 06/12/2018.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Đặng Ngọc S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND H.Sông Hinh(2) - Công an H.Sông Hinh; - Bị cáo; NĐDS; NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ, án văn. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lƣơng Thị Đông |