vanban.org

Bản án 02/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: .....................................................

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ( bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Hiệp gay thương tích cho anh Mai - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: .....................................................
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật TTHS
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02 /2019/HS - ST
Ngày: 23/01/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Dệt

Bà Nguyễn Thị Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hính sự thụ lý số 62/2018/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2018. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Văn H ( Lâm Phỏm), sinh ngày 12/9/1993

Nơi sinh và trú tại: Thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trính độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị H (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con.

Nhân thân: Tại bản án số 21/2011/HSST ngày 25/3/2011 TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong bản án.

Tiền án: Tại bản án số 43/2015/HSST ngày 28/8/2015 TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt Lê Văn H 01 năm 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.

Tại bản án số 18/2016/HSST ngày 04/02/2016 của TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt Lê Văn H 01 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hính phạt 01 năm 06 tháng tù của bản án số 43/2015/HSST ngày 28/8/2015 của TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hính phạt chung của hai bản án là 02 năm 06 tháng tù. Ngày 06/8/2017 chấp hành xong hính phạt tù được trở về địa phương.

Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 06/8/2018 đến ngày 09/8/2018 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt.)

- Người bào chữa cho bị cáo H:

Bà Nguyễn Thị Q - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt.)

- Bị hại: Anh Trần Văn M, sinh năm 1988(Có mặt.)

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa.

-Người làm chứng:

+ Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1980(Vắng mặt.)

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa.

+ Anh Lê Hoàng T, sinh năm 1985(Vắng mặt.)

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa.

+ Ông Lê Văn L, sinh năm 1957(Có mặt.)

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện N, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 01/6/2018 Lê Văn H đến nhà anh Ch ở cùng thôn để chơi. Khi đến H thấy có anh Hoàng Văn H, Trần Văn M và một số người đang đánh bài, trong đó có bố H là ông Lê Văn L đang ngồi ngoài xem. H nói: “ Bố đi về đi, không con làm lớn chuyện đấy”, thí ông L nói: “ Bố ngồi chơi uống nước tý bố về.” H đi lại giật chiếc ghế và ném đi. Thấy vậy anh M nói: “ Chỗ này đang ngồi chơi mà phá gí vậy ?” H đi lại túm cổ áo anh M, hai bên xảy ra xô xát. Anh Ch ra can ngăn, thí H bỏ về. Sau khi H về được khoảng 5 phút, thí anh M và anh H cùng lên xe đi về, Hlai ông L đi phía sau. Khi anh M đi đến gần nhà H thí thấy H đi xe máy theo chiều ngược lại. Hai bên gặp nhau H dùng dao gọt hoa quả chém về phìa anh M trúng vào mặt ngoài cánh tay trái, anh M xuống xe bỏ chạy. Anh H lại can ngăn và lấy được con dao từ tay H và đưa cho ông L. H nói với H đi về, anh H cũng đi về nhà mính. Sau khi bỏ chạy anh M quay lại để lấy xe, thí không thấy xe đâu nữa, nên lấy điện thoại gọi cho anh Lê Văn T người cùng thôn đến để đưa mính về. Lúc này H tay cầm búa chạy lại để tiếp tục đuổi đánh anh M. Anh Mai chạy về hướng nhà ông B. Cùng lúc đó anh T cũng vừa đến, thấy H đang cầm búa đuổi đánh M, anh T đi vào giữa hai người để can ngăn và lấy được chiếc búa từ tay H mang về nhà.

Sau khi gây thương tích cho anh M, H bỏ trốn vào huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 26/6/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện N quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh truy nã đối với Lê Văn H. Đến ngày 06/8/2018 H đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mính.

Bị hại anh Trần Văn Mbáo cáo sau khi bị H dùng dao gây thương tìch, anh được người nhà đưa đến Trạm y tế xã C sơ cứu. Sau đó chuyển lên Bệnh viện đa khoa huyện N điều trị từ ngày 01/6/2018 đến ngày 03/6/2018 thí xuất viện.

Ngày 07/6/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ra quyết định trưng cầu trung tâm Pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe của anh M. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tìch số 384/2018/TTPY ngày 13/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:

Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt trước cánh tay trái, số lượng sẹo ìt, kìch thước lớn: 10%.

Kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tìch gây nên là 10%.

Về phần dân sự: Theo báo cáo của bị hại các chi phì trong quá trính cấp cứu và điều trị tại Trạm y tế xã C, bệnh viện đa khoa huyện N, đi giám định tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa gồm các khoản sau:

Tiền điều trị tại Trạm y tế xã C: 300.000đ. Tiền điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện N có hóa đơn: 1.151.000đ. Tiền ăn trong hai ngày: 240.000đ. Tiền chi phì đồ dùng sinh hoạt: 500.000đ. Tiền xe đưa đi giám định tại Bệnh viện đa khoa Thanh Hóa: 1.000.000đ. Tiền xe đi từ Trạm y tế C đến bệnh viện đa khoa N: 300.000đ. Tiền xe đi từ Bệnh viện đa khoa N về nhà: 300.000đ. Tiền công ngày lao động: 7 ngày x 200.000đ/ngày = 1.400.000đ. Tổng chi phì điều trị, tiền công lao động anh M yêu cầu bị cáo bồi thường là 5.191.000đ. Ngoài ra anh M còn yêu cầu bị cáo bồi thường một lần về tổn hại sức khỏe cho anh là: 20.000.000đ. Tổng cộng anh M yêu cầu bị cáo bồi thường là 25.191.000đ. Hiện tại bị cáo H chưa bồi thường được khoản tiền nào.

Vật chứng của vụ án: 01 dao dài 22cm, cán nhựa màu đen có chữ KiWi, phần thân bằng sắt màu sáng, dạng một lưỡi dài, mũi nhọn; 01 búa đinh dài 40cm, cán gỗ dài 38cm.

Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện N chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 01/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Lê Văn H về tội “ Cố ý gây thương tìch” theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hính sự.

Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội của mính và xin giảm nhẹ hính phạt.

Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Đồng thời đề nghị HĐXX giảm nhẹ hính phạt cho bị cáo.

Đại diện VKS luận tội khẳng định bị cáo Lê Văn H phạm tội “ Cố ý gây thương tìch ” Đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51; Điều 38 BLHS. Đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Lê Văn H từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Vật chứng áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao và 01 chiếc búa là công cụ phạm tội. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên không phải chịu tiền án phì HSST.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51; Khoản 1 Điều 138 BLHS, tuyên phạt bị cáo 24 tháng tù. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn tiền án phì theo điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trính điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của VKSND huyện Nông Cống, trong quá trính điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trính tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hính sự.

[2] Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà bị cáo Lê Văn H thừa nhận: Vào 21 giờ 30 phút, ngày 01/6/2018 do mâu thuẫn cá nhân, H đã dùng dao gọt hoa quả chém vào mặt ngoài cánh tay trái anh Trần Văn M gây thương tìch. Hậu quả anh M bị tổn thương cơ thể 10%.

Đối chiếu với lời khai của bị cáo, người bị hại, kết quả giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, có đủ căn cứ chứng minh: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “ Cố ý gây thương tìch”. Tội danh chính thức được thành lập theo điểm d khoản 1 điều 134 BLHS, với tính tiết định khung tái phạm nguy hiểm. VKSND huyện N truy tố bị cáo theo tội danh trên, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tình chất mức độ nguy hiểm của tội phạm như sau:

Tình chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó xâm phạm đến thân thể, sức khoẻ của người khác – một khách thể đặc biệt được pháp luật hính sự bảo vệ. Hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:

Bị cáo không phải chịu tính tiết tăng nặng trách nhiệm hính sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng các tính tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo ra đầu thú, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hính phạt cho bị cáo, nên được hưởng hai tính tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 điều 51 BLHS. Về nhân thân, bị cáo đã từng tái phạm chưa được xóa án tình nên thuộc trường hợp định khung tái phạm nguy hiểm. Căn cứ vào tình chất và các tính tiết của vụ án, HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân xấu. Do vậy, cần phải áp dụng hính phạt nghiêm khắc trong môi trường giam giữ là cần thiết. Có như vậy mới đủ điều kiện, thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ìch cho xã hội. Đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[ 5] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phì:

Tại phiên tòa người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét.

Vật chứng: 01 dao gọt hoa quả dài 22cm, cán nhựa màu đen có chữ KiWi, phần thân bằng sắt màu sáng, mũi nhọn; 01 búa đinh dài 40cm, cán gỗ dài 38cm. Đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phì: Bị cáo bị kết án có tội phải chịu án phì hính sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo thuộc hộ nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phì, lệ phì Tòa án. Miễn toàn bộ tiền án phì HSST cho Lê Văn Hiệp.

Ví các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tìch”.

- Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hính sự.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hính phạt tù kể từ ngày tạm giữ 06/8/2018.

- Trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu.

- Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật TTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 dao gọt hoa quả dài 22cm, cán nhựa màu đen có chữ KiWi, phần thân bằng sắt màu sáng, mũi nhọn; 01 búa đinh dài 40cm, cán gỗ dài 38cm.

- Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phì, lệ phì Tòa án. Miễn toàn bộ tiền án phí HSST cho Lê Văn Hiệp.

- Quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 điều 331, 333 Bộ luật TTHS tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho bị cáo, người bị hại trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¬ thÈm

- Bị cáo; Ng êi bÞ h¹i

thÈm ph¸n – Chñ täa phiªn tßa

- VKSND huyện và tỉnh;

- Công an huyện N;

- TAND tỉnh Thanh Hóa¸;

- Cơ quan Thị hành án Dân sự;

( Đã Ký)

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- C¬ quan Thi hµnh ¸n H×nh sù

- Lưu: Hồ sơ, Vp.

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Nguyễn Thị Anh

Lê Thị Dệt

Ph¹m H÷u Th¾ng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¬ thÈm

- Bị cáo; Ng êi bÞ h¹i

thÈm ph¸n – Chñ täa phiªn tßa

- VKSND huyện và tỉnh;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND tỉnh Thanh Hóa¸;

- Cơ quan Thị hành án Dân sự;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- C¬ quan Thi hµnh ¸n H×nh sù

- Lưu: Hồ sơ, Vp.

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Đỗ Ngọc Phan

Lê Thị Dệt

Ph¹m H÷u Th¾ng Tßa ¸n nh©n d©n

Céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam HUYỆN NÔNG CỐNG

§éc lËp - Tù do - H¹nh phóc TỈNH THANH HÓA B¶n ¸n sè: /2019/HSST. Ngµy: 23/01/2019

Nh©n danh

NƢíc céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam

Tßa ¸n nh©n d©n HUYỆN NÔNG CỐNG,tØnh Thanh Hãa

- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Dệt

Bà Nguyễn Thị Anh

- Thư ký phiên tòa : Ông Phạm Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nông Cống.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thảo – Kiểm sát viên.

Ngµy 23 tháng 01 năm 2019, t¹i Trô së Tßa ¸n nh©n d©n huyện Nông Cống xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè 62/2018/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Văn Hiệp ( Lâm Phỏm), sinh ngày 12/9/1993 Nơi đăng ký HKTT: Thôn Hồng Thái, xã Công Chình, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trính độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Lân và bà Nguyễn Thị Hào ( đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án:

Ngày 25/3/2011 bị TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo bản án số 21/2011/HSST ngày 25/3/2011, chấp hành xong án ở lại các tỉnh phìa nam lao động tự do.

Tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 04/02/2016 của TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt Lê Văn Hiệp 01 năm tù, tổng hợp hính phạt 01 năm 06 tháng tù của bản án số 43/2015/HSST ngày 28/8/2015 của TAND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai buộc bị cáo phải chấp hành hính phạt chung của hai bản án là 02 năm 06 tháng tù, đến ngày 06/8/2017 chấp hành xong án trở về địa phương. h phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hành phạt ngày 08/5/2017.

Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 06/8/2018 đến ngày 09/8/2018 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hiệp:

Bà Nguyễn Thị Quế - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa.

- Bị hại: Anh Trần Văn Mai, sinh năm 1988 Địa chỉ: Thôn Hồng Thái, xã Công Chình, huyện Nông Cống, Thanh Hóa.

-Người Làm chứng:

+ Anh Hoàng Văn Hải, sinh năm 1980 Địa chỉ: Thôn Hồng Thái, xã Công Chình, huyện Nông Cống, Thanh Hóa.

+ Anh Lê Hoàng Tâm, sinh năm 1985 Địa chỉ: Thôn Hồng Thái, xã Công Chình, huyện Nông Cống, Thanh Hóa.

+ Ông Lê Văn Lâm, sinh năm 1957 Địa chỉ: Thôn Hồng Thái, xã Công Chình, huyện Nông Cống, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 01/6/2018 Lê Văn Hiệp đến nhà anh Chung, chị Phương ở cùng thôn để chơi, khi đến Hiệp thấy có anh Hoàng Văn hải, Trần Văn Mai và một số người đang đánh bài, trong đó có bố Hiệp là ông Lê Văn Lâm đang ngồi ngoài xem, Hiệp nói “ Bố đi về đi, không con làm lớn chuyện đấy”, thí ông Lâm nói “ Bố ngồi chơi uống nước tý bố về”, Hiệp đi lại giật chiếc và ném ghế nhà anh Chung, lúc này anh nói “ Chỗ này đang ngồi chơi mà phá gí vậy” nên Hiệp đi lại túm cổ áo anh Mai, hai bên xảy ra xô xát, anh Chung ra can ngăn, nên Hiệp bỏ về. Sau khi Hiệp về được khoảng 5 phút, thí anh Mai và anh Hải cùng lên xe đi về, hải lai ông Lâm đi phìa sau. Khi anh Mai đi đến gần nhà Hiệp thí thấy Hiệp đi xe máy theo chiều ngược lại, hai bên gặp nhau Hiệp dùng dao chém về phìa anh Mai trúng vào mặt ngoài cánh tay trái, thấy vậy anh Mai xuống xe bỏ chạy, anh Hai lại can ngăn và lấy được con dao từ tay Hiệp và đưa cho ông Lâm, rồi Hải nói với Hiệp đi về, anh hải cũng đi về nhà mính. Sau khi bỏ chạy anh Mai quay lại để lấy xe, thí không thấy xe đâu nữa, nên lấy điện thoại gọi cho anh Lê Văn Tâm người cùng thôn đến để đưa mính về. Lúc này Hiệp tay cầm búa chạy lại để tiếp tục đuổi đánh anhMai, anh Mai chạy về hướng nhà ông Bính, Thành, cùng lúc này anh Tâm cũng vừa đến thấy Hiệp đang cầm búa đuổi đánh Mai, anh Tâm đi vào giữa hai người để can ngăn và lấy được chiếc búa từ tay Hiệp mang về nhà, sau đó Công an xã Trung Chình đã thu giữ chiếc búa trên.

Sau khi gây thương tìch cho anh Mai, Hiệp đi về nhà khoảng 30 phút sau Hiệp đi xuống Quốc lộ 1A bắt xe đi vào huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xem xét dấu vết trên thân thể anh Mai, lấy lời khai người làm chứng, ngày 26/6/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống quyết địnhkhởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh truy nã đối với Lê Văn Hiệp. Đến ngày 06/8/2018 Hiệp đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mính.

Bị hại anh Trần Văn Mai báo cáo sau khi bị Hiệp dùng dao gây thương tìch, anh được người nhà đưa đến Trạm y tế xã Công Chình sơ cứu, sau đó chuyển lên Bệnh viện đa khoa huyện Nông Cống điều trị từ ngày 01/6/2018 đến ngày 03/6/2018 thí xuất viện.

Ngày 07/6/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã ra quyết định trưng cầu trung tâm Pháp y tính Thanh Hóa giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe của anh Mai. Tại bản kết luận giám định pháo y về thương tìch số 384/2018/TTPY ngày 13/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt trước cánh tay trái, số lượng sẹo

ìt, kìch thước lớn: 10%. Kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tìch gây nên là 10%

 Vật chứng của vụ án:

- 01 dao dài 22cm, cán nhựa màu đen, phần thân bằng sắt màu sáng, dạng một lưỡi dài, mũi nhọn.

- 01 búa đinh dài 40cm, cán gỗ dài 38cm.

Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống.

 Về phần dân sự: Theo báo cáo của bị hại và các hóa đơn chứng từ có

liên quan trong quá trính cấp cứu và điều trị tại Trạm y tế xã Công Chình, bệnh viện đa khoa huyện Nông Cống, đi giám định tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa gồm các khoản sau:

- Tiền điều trị tại Trạm y tế xã Công Chình: 300.000đ

- Tiền điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Nông Cống có hóa đơn:

1.151.000đ.

- Tiền ăn trong hai ngày: 240.000đ;

- Tiền chi phì đò dungfsinh hoạt: 500.000đ;

- Tiền xe đưa đi giám định tại Bệnh viện đa khoa Thanh Hóa: 1.000.000đ;

- Tiền xe đi từ Trạm y tế Công Chình đến bệnh viện đa khoa Nông Cống:

300.000đ;

- Tiền xe đi từ Bệnh viện đa khoa Nông Cống về nhà: 300.000đ;

- Tiền công ngày lao đọng: 7 ngày x 200.000đ/ngày = 1.400.000đ;

Tổng chi phì điều trị, tiền công lao động anh Mai yêu cầu bị cáo bồi

thường là 5.191.000đ. Ngoài ra anhmai còn yêu cầu bị cáo bồi thường một lần về tổn hại sức khỏe cho anh là: 20.000.000đ.

Tổng cộng anh Mai yêu cầu bị cáo bồi thường là 25.191.000đ. Bị cáo

Hiệp chưa bồi thường được khoản tiền nào.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 01/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống đã truy tố Lê Văn Hiệp về tội “ Cố ý gây thương tìch” theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hính sự.

Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng......

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an huyện Nông Cống, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trính điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trính tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hính sự. Quá trính điều tra, truy tố và tại phiên tòa Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người người người làm chứng, phù hợp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

.................................................................................................

[5] Xem xét các tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hính sự của các bị cáo:

[6] Về hính phạt bổ sung:

[7] Về vật chứng:

[8] Về án phì: Các Bị cáo phải chịu án phì hính sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ví các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

2. Áp dụng:

3. Xử phạt: .....................................................

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ( bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.

4. Về vật chứng:

5. Về án phì:

6. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.

tm. Héi ®ång xÐt xö S¥ THÈM N¬i nhËn:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÕA -TAND tỉnh Thanh Hóa; -VKSND huyện Nông Cống; -Công an huyện Nông Cống; -THADS huyện Nông Cống; -Bị cáo; -Lưu HSVA.

Phạm Hữu Thắng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¬ thÈm

- Bị cáo; Ng êi bÞ h¹i

thÈm ph¸n – Chñ täa phiªn tßa

- VKSND huyện và tỉnh;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND tỉnh Thanh Hóa¸;

- Cơ quan Thị hành án Dân sự;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- C¬ quan Thi hµnh ¸n H×nh sù

- Lưu: Hồ sơ, Vp.

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Lê Thị Xuân

Lê Thị Dệt

Ph¹m H÷u Th¾ng

Nguyên nhân phạm tội là do các bị cáo lời qua tiếng lại trong khi uống rượu nên dẫn đến xô xát. Để giải quyết mâu thuẫn Đôi, Hải và Tuấn đã chuẫn bị công cụ gây án. Hải và Đôi đã dùng dao chém anh Bằng gây thương tìch. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¬ thÈm

- Bị cáo; Ng êi bÞ h¹i

thÈm ph¸n – Chñ täa phiªn tßa

- VKSND huyện Nông Cống;;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND tỉnh Thanh Hóa¸;

- Cơ quan Thị hành án ;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- C¬ quan Thi hµnh ¸n H×nh sù

- Lưu: Hồ sơ, Vp.

Phạm Hữu Thắng Khoảng 22 giờ ngày 20/6/2018 Trần Văn Đôi sinh năm 2001 cùng với Nguyễn Văn Hải sinh năm 2000, Nguyễn Ngọc Tuấn sinh năm 2000 và một người bạn tên Linh sinh năm 1999 đều ở thôn Phượng Đoài, xã Trường Trung, Nông Cống đang ngồi uống rượu với nhau tại quán Cường Lý xã Minh Khôi Nông Cống; Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Ngọc Bằng sinh năm 1993 là người cùng thôn đi cùng 3 người bạn khác đến quán thí gặp Đôi. Bằng to tiếng và có ý trách đi uống rượu không rủ mính đi cùng, sau đó Bằng ngồi uống rượu cùng bàn với Tuấn,Đôi, Hải và Linh. Trong lúc uống rượu, Bằng túm cổ áo Tuấn và dọa đánh Tuấn, tuy nhiên được mọi người can ngăn nên Bằng ngồi xuống. Khoảng 30 phút sau Đôi, Hải và Tuấn đứng dậy trước trả tiền ra về, Bằng và Linh vẫn ngồi lại uống rượu tại quán. Nguyễn Văn Hải điều khiển xe mô tô BKS 36B4 – 29469 đèo Trần Văn Đôi còn Nguyễn Ngọc Tuấn điều khiển xe mô tô BKS 36B5 - 36502 đi một mính. Trên đường về Tuấn nói với Đôi và Hải là “ Tao định đánh Bằng”, Đôi nói ừ còn Hải nói “ Thôi để về công đê”, sau đó cả ba đi về đến cống đê thuộc Thôn Phượng Đoài xã Trường Trung thí dừng lại ngồi chơi; Trong lúc ngồi ở cống đê Tuấn nói với Đôi và Hải là gọi cho chú Đông (ở xã Trường Giang) nhờ chú Đông đến quán hỏi Bằng xem tại sao lại túm cổ áo và định đánh mính. Hải nói thôi, đừng gọi lớn chuyện ra, lát nữa Bằng về mà gây sự thí sẽ đánh. Đôi nói “ nhà tao có 2 con dao để tao về lấy”. Nói xong Đôi đi xe mô tô của Tuấn về nhà lấy dao; Khoảng 5 phút sau Đôi cầm 02 con dao (dạng dao tự chế) ra cống đê, Tuấn và Hải cầm xem, sau đó Đôi đem dao để ở mép cống (BL 127,129, 131, 174, 175,177 ). Khoảng 23 giờ, Bằng đi xe mô tô một mính về đến cống đê thí gặp Đôi, Hải và Tuấn đang ngồi ở đó. Bằng xuống xe đi lại và ngồi lên gói thuốc lá của Đôi nên hai bên xảy ra xô xát. Lúc này, Tuấn đang ngồi trên xe mô tô của mính cách đó khoảng 3 mét, Bằng dùng tay phải túm cổ áo, tay trái đấm vào mặt Đôi, cả hai thách thức nhau nên Đôi lấy con dao để ở mép cống đê chém 2 nhát về phìa Bằng. Nhát thứ nhất Bằng tránh được, nhát thứ hai trúng vào lưng Bằng. Thấy vậy, Hải lấy con dao còn lại ở mép đê chém một nhát trúng vào bàn tay phải của Bằng, Bằng cầm lưỡi dao thí Hải giật về phìa sau, Bằng bỏ chạy; Đôi và Hải đuổi theo khoảng 10 mét thí quay lại. Hải lấy xe chở Đôi cầm 02 con dao bỏ ở bụi cây cách đó khoảng 100 mét rồi đi đường tỉnh lộ 525 lên Thị trấn Nông Cống; Tuấn điều khiển xe chạy theo được khoảng 100 mét thí gặp bạn là Cường và Đức. Tuấn nói cho Cường, Đức biết anh Bằng bị thương đang ngồi ở cống đê để Cường, Đức đem anh Bằng đi Bệnh viện cấp cứu (BL 176 ). Ngày 21/6/2018 Trần Văn Đôi đến cơ quan CSĐT công an huyện Nông Cống đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mính cùng các đồng phạm khác. Ngày 28/7/2018 Nguyễn Văn Hải đến cơ quan CSĐT công an huyện Nông cống khai báo hành vi phạm tội và giao nộp 02 con dao mà Đôi và Hải đã dùng gây thương tìch cho anh Bằng (BL 114; 149).

Anh Nguyễn Ngọc Bằng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Nông Cống từ ngày 21/6/2018 đến ngày 05/7/2018 ra viện. Tại bệnh án ngoại khoa số: 31953 khoa cấp cứu Bệnh viện Đa khoa huyện Nông Cống ngày 05/7/2018 chẩn đoán: Vết xước da vùng lưng,Vết thương phức tạp bàn tay (P) đứt gân gấp ngón III; IV; V bàn tay (P); Phương pháp điều trị phẫu thuật, nối gân.

Ngày 10/7/2018 cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe do thương tìch gây ra đối với Nguyễn Ngọc Bằng. Ngày 12/7/2018 Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa có kết luận giám định số 452/2018/TTPY kết luận: Hiện tại tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tìch gây nên được tình theo phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể (Điều 4-Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế ) là 14%.(BL 79)

Vật chứng vụ án:

01 con dao (dạng dao năm) phần cán dài 13cm , phần lưỡi sắt dài 32cm, phần lưỡi sắc một đầu bằng do bị can Đôi giao nộp và khai báo: do 02 con dao dùng để chém gây thương tìch cho anh Bằng đang còn mới muốn giữ lại nên khi đến cơ quan CSĐT công an huyện Nông cống đầu thú bị can đã lấy một con dao khác ở nhà đem đi giao nộp. Quá trính điều tra xác định con dao này không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan CSĐT đã trả lại cho bị can Đôi.

02 con dao do Nguyễn Văn Hải giao nộp (Trong đó 01 con dao kim loại mầu trắng sáng, lưỡi dẹt, mũi nhọn, cán tròn bằng kim loại, lưỡi dao dài 40cm, rộng 3 cm, một mặt nhọn, một mặt tù, cán dao dài 22cm bằng ống kim loại đường kình 2cm mầu nâu đen, 01 con dao kim loại mầu trắng sáng, lưỡi dao dài 45cm, rộng 3.5cm, một mặt sắc, một mặt tù, mũi nhọn, cán dao dài 39cm bằng ống kim loại đường kình 3cm màu trắng sáng). Bị can Hải khai báo: Sau khi sự việc xảy ra đã vứt 02 con dao xuống bụi cây cách hiện trường khoảng 100m. Trước khi đến cơ quan CSĐT công an huyện Nông Cống đầu thú đã đến bụi cây đó lấy 2 con dao đem đi giao nộp.

Vật chứng nêu trên hiện nay đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống để chờ xử lý.

Trong vụ án các bị can Tuấn và Hải có sử dụng 02 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 36B5- 36502 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS36B4 – 29469 làm phương tiện đi lại. Quá trính điều tra xác định xe mô tô BKS 36B5- 36502 thuộc sở hữu của bà Vũ Thị Nhung (Mẹ bị can Nguyễn Ngọc Tuấn); xe mô tô BKS BKS36B4 – 29469 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn Ninh (Anh trai bị can Nguyễn Văn Hải). Bà Nhung và anh Ninh không biết các bị can mượn xe của mính để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống không tạm giữ 02 chiếc xe nêu trên.

Phần dân sự

Hiện nay các bị can và bị hại đã thống nhất, thỏa thuận xong phần dân sự, bị hại anh Nguyễn Ngọc Bằng đã nhận đủ số tiền bồi thường theo thỏa thuận là 40.000.000đ và không yêu cầu gí thêm( BL.....).

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Các bị can không phải chịu tính tiết tăng nặng trách nhiệm hính sự.

- Về tính tiết giảm nhẹ: Các bị can Trần Văn Đôi; Nguyễn Văn Hải; Nguyễn Ngọc Tuấn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Ngọc Bằng ; quá trính điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét tính tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 điều 51 BLHS.

Riêng bị can Trần văn Đôi và Nguyễn Văn Hải đã đến cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đầu thú quy định tại khoản 2, điều 51 BLHS.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ đã nêu trên

KẾT LUẬN

Do có mâu thuẫn giữa bị can Nguyễn Ngọc Tuấn và bị hại là anh Nguyễn Ngọc Bằng tại quán Cường Lý xã Minh Khôi Nông cống nên Nguyễn Ngọc Tuấn đã có lời nói kìch động và có ý định gọi điện nhờ người đến để đánh anh Bằng. Vào khoảng 23h giờ ngày 20/6/2018 tại Cống đê thuộc Thôn Phượng Đoài xã Trường Trung huyện Nông Cống các bị can Nguyễn Ngọc Tuấn; Trần văn Đôi; Nguyễn Văn Hải đã đồng phạm về hành vi gây thương tìch cho anh Nguyễn Ngọc Bằng tổn hại 14% sức khỏe. Hiện nay anh Bằng đã nhận đủ số tiền mà các bị can liên đới bồi thường và không yêu cầu gí thêm. Hành vi nêu trên của các bị can là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau :

LÝ LỊCH BỊ CAN

1.Họ và tên: Nguyễn Ngọc Tuấn Giới tình: Nam Sinh ngày: 25 tháng 12 năm 2000 Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Quốc tịch: Việt Nam Nơi ĐKNKTT: Thôn Phượng Đoài, xã Trường Trung, H.Nông Cống, T.Thanh Hóa Nghề nghiệp: Sinh viên

Trính độ văn hóa: 12/12

Họ tên bố: Nguyễn Ngọc Nghĩa

Sinh năm: 1975 Họ tên mẹ: Vũ Thị Nhung

Sinh năm: 1980 Hiện bố mẹ đều sinh sống tại Thôn Phượng Đoài, xã Trường Trung, H.Nông Cống, T.Thanh Hóa

Quá trình hoạt động của bị can: Từ nhỏ sống cùng bố mẹ, được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 12/12. Hiện nay đang là sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Thanh Hóa.

Gia đính có 03 anh em, bị can là con đầu, chưa có vợ

Tiền án, tiền sự: Không

Bị can không bị tạm giữ, không bị tạm giam; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.Hiện bị can đang tại ngoại tại địa phương. 2.Họ và tên: Trần Văn Đôi Giới tình: Nam Sinh ngày: 14 tháng 10 năm 2001 Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Quốc tịch: Việt Nam Nơi ĐKNKTT: Thôn Phượng Đoài, xã Trường Trung, H.Nông Cống, T.Thanh Hóa Nghề nghiệp: Lao động tự do Trính độ văn hóa: 3/12 Họ tên bố: Trần Văn Vạn

Đã chết

Họ tên mẹ: Bùi Thị Nga

Đã chết

Quá trình hoạt động của bị can: Từ nhỏ sống cùng bố mẹ, được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 3/12 thôi học ở nhà lao động tự do cho đến nay.

Gia đính có 03 anh em, bị can là con út, chưa có vợ

Tiền án, Tiền sự: Chưa

Bị can không bị tạm giữ, không bị tạm giam; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị can đang tại ngoại tại địa phương 3. Họ và tên: Nguyễn Văn Hải Giới tình: Nam Sinh ngày: 29 thánh 8 năm 2000 Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Quốc tịch: Việt Nam Nơi ĐKNKTT: Thôn Phượng Đoài, xã Trường Trung, H.Nông Cống,T.Thanh Hóa. Nghề nghiệp: lao động tự do Trính độ văn hóa: 6/12 Họ tên bố: Nguyễn Văn Thanh

Sinh năm: 1969

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bắc

Sinh năm: 1973

Hiện bố mẹ đều sinh sống tại Thôn Phượng Đoài, xã Trường Trung, H.Nông Cống, T.Thanh Hóa

Quá trình hoạt động của bị can: Từ nhỏ sống cùng bố mẹ, được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 6/12 thôi học ở nhà lao động tự do cho đến nay.

Gia đính có 04 anh em, bị can là con út, chưa có vợ

Tiền án, Tiền sự: Chưa

Bị can không bị tạm giữ, không bị tạm giam; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.Hiện bị can đang tại ngoại tại địa phương `

Hành vi nêu trên của các bị can đã phạm vàođiểm đ khoản 2 điều 134 BLHS năm 2015

Điều 134. Tội Cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác 1.Người nào cố ý gây thương tìch hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thí bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; b) Dùng a- xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; đ) Có tổ chức; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giao dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; i) Có tính chất côn đồ; k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thí bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%; c) Phạm tội 02 lần trở lên; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này. 3. ...

Các bị can không phải chịu tính tiết tăng nặng trách nhiệm hính sự. Các bị can được hưởng tính tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 điều 51 BLHS. Riêng bị can Trần văn Đôi và Nguyễn Văn Hải được hưởng thêm tính tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, điều 51 BLHS.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Lê Đức Thuận

Đỗ Ngọc Phan

Ph¹m H÷u Th¾ng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¬ thÈm

- Bị cáo; Ng êi bÞ h¹i

thÈm ph¸n – Chñ täa phiªn tßa

- VKSND huyện Nông Cống;;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND tỉnh Thanh Hóa¸;

- Cơ quan Thị hành án ;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- C¬ quan Thi hµnh ¸n H×nh sù

- Lưu: Hồ sơ, Vp.

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA NguyÔn Ngäc TiÕn

Lª ThÞ DÖt

Ph¹m H÷u Th¾ng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Bị cáo;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Nông Cống;;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND tỉnh Thanh Hóa¸;

- Cơ quan Thị hành án ;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- Lưu: Hồ sơ, Vp.

Ph¹m H÷u Th¾ng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA NguyÔn Ngäc TiÕn

Lª ThÞ DÖt

Ph¹m H÷u Th¾ng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Bị cáo;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Nông Cống;;

- Công an huyện Nông Cống;

- TAND tỉnh Thanh Hóa¸;

- Cơ quan Thị hành án ;

- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- Lưu: Hồ sơ, Vp.

Ph¹m H÷u Th¾ng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Lª ThÞ DÖt

§ç ThÞ Thu

Ph¹m H÷u Th¾ng

- Toµ ¸n tØnh Thanh Ho¸

thÈm ph¸n – chñ täa phiªn tßa

- VKS huyÖn N«ng cèng

- Chi côc thi hµnh ¸n DS N/C

- C«ng an huyÖn N«ng cèng

- BÞ c¸o;

- Ng¬× bÞ h¹i;

- Thi hµnh ¸n h×nh sù

ph¹m h÷u th¾ng

- Lu hå s¬

Quá trính điều tra Tâm còn khai nhận: Ngoài lần trộm cắp tài sản vào ngày 26/9/2017, thí vào khoảng giữa tháng 9/2017, Lê Bật Tâm và Phạm Văn Lâm còn thực hiện 01 vụ trộm cắp 01 khúc gỗ keo, chiều dài khoảng 03m, đường kình khoảng 20 cm của 01 nhà dân ở xã Tân Khang, huyện Nông Cống. Tuy nhiên chưa xác định được bị hại nên không có căn cứ để xử lý.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ