- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HS-ST Ngày 23/01/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khải; Ông Hồ Giang Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vi Thế Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Hồng Hoa – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2018/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/ QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2019/HSST – QĐ, ngày 17/01/2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 04/12/1996; nơi sinh: tỉnh Đăk Nông; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị N; bị cáo được tại ngoại - Có mặt.
- Bị hại:
1. Bà Đỗ Thị T; sinh năm 1952; Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt
2. Chị Trần Thị Trúc L; sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Huỳnh Thị Bích N; sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đăk Nông. Có mặt
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N; sinh năm 1966; Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/6/2018, Nguyễ n Văn H cù ng Nguyễ n Văn T điề u khiể n hai xe má y đế n nhà Đinh Công T tại xã E, huyệ n L, tỉnh Đắ k Lắ k để trả xe cho T. Trên đườ ng đi, T rủ H cùng đi trộ m cắ p ti vi. Sau khi trả xe thì cả hai về nhà tạ i xã Q, huyệ n K, tỉnh Đắk Nông.
Đế n khoả ng 18 giờ ngà y 07/6/2018, H lấ y xe má y Dream củ a gia đì nh đế n nhà T chơi. Tại đây, T rủ H đến nhà bà Đỗ Thị T tại thôn P , xã Q, huyệ n K, tỉnh Đắk Nông trộm cắp ti vi thì H đồ ng ý và lấ y xe má y chở T đi . Khi thấ y nhà bà T không có người, T xuố ng xe đi và o trướ c, còn H chạy xe máy đến bãi đất trống cách nhà bà T khoả ng hơn 20 mét cất xe rồi đi bộ đến sau. T lấ y 01 con dao ở khu vự c bế p, cạy bung cử a phí a sau nhà bà T ra và đi và o tron g nhà , H ngồ i cá ch cử a khoả ng 05 mét để canh gác. Khoảng 05 phút sau, T đi ra và ôm theo 01 tivi đượ c bọ c trong mộ t tấ m ga nệ m. H lấ y xe và chở T về thôn P, xã Q, huyệ n K. Đế n đườ ng bê tông và o nhà T, thì H dừng xe lại để T đi vào vườn bắp ở ven đường cất giấu tài sản vừa trộm cắp đượ c. Sau đó , T về nhà , còn H đi làm thuê. Khi phát hiện bị mất trộm, bà T đã trình báo sự việc với cơ quan công an. Đế n khoả ng đầ u thá ng 7 năm 2018, T mang chiế c tivi trộ m cắ p đượ c để trong bao xá c rắ n mà u xanh đế n nhà củ a mẹ H là bà Nguyễ n Thị N đưa cho H . Sau đó , bà N gọi điện cho H , nên H đem chiế c ti vi đự ng trong bao xá c rắ n mà u xanh đế n nhà bà T để trả chiế c tivi trên , nhưng không có ai ở nhà nên H để lạ i cạ nh nhà bà T, còn chiếc ga trải giường không biết ở đâu.
Kết luận định giá tài sản số
29/BB-KLĐG ngà y 18/7/2018 của Hội đồng ĐG&BĐGTS – Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô kết luận: giá trị tài sản 01 tivi có đặ c điể m như trên và o thờ i điể m ngà y07/6/2018 là 2.200.000 đồ ng.
Kế t luậ n đị nh giá tà i sả n số 41/BB-KLĐG ngà y 22/10/2018 của Hội đồng ĐG&BĐGTS – Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô kết luận: giá trị tài sản 01 tấ m ga nệ m trả i giườ ng có đặ c điể m như trên và o thờ i điể m ngà y07/6/2018 là 8.000 đồ ng.
Việ c thu giữ tà i liệ u , đồ vậ t: Trong quá trì nh điề u tra , cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Krông Nô thu giữ : 01 ti vi mà u đen, nhãn hiệu SAMSUNG, loại tinh thể lỏ ng (LCD), 32 inch, model: UA32H5552AK; model code: UA32H5552 AKXXV (ti vi đã qua sử dụ ng, không kiể m tra tì nh trạ ng bên trong). 01 bao xá c rắ n màu xanh, dài 1,2m, rộ ng 60 cm (bao đã qua sử dụ ng ). 01 đôi dé p tông mà u đen (loại dé p xỏ ngó n ) làm bằng chất liệu cao su , có kích thước lần lượt : Vị trí rộng nhấ t 10 cm, dài 27cm (dép đã qua sử dụng).
Cáo trạng số: 01/CTr-VKS ngày 26/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày bắt để thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điề u 106 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Chấ p nhậ n Quyế t đị nh xử lý vậ t chứ ng số 461/QĐXLVC ngà y 29/7/2018 của cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Krông Nô trả 01 ti vi cho chủ sở hữ u là chị Huỳnh Thị Bích N. Tịch thu, tiêu hủ y: 01 bao xá c rắ n,01 đôi dé p tông.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
. Ngày 07/6/2018, tại thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đăk Nông, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 ti vi nhãn hiệu SAMSUNG trị giá 2.200.000 đồng do bà Đỗ Thị T đang quản lý và 01 tấm ga nệm trị giá 8.000 đồng của chị Trần Thị Trúc L. Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và nhân thân của bị cáo:
3.1. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Về nhân thân bị cáo: Ngày 28/01/2009 bị công an xã Q , huyệ n K, tỉnh Đắk Nông phạt hành chính về hành vi trộ m cắ p tà i sả n bằ ng hì nh thứ c cả nh cá o ; ngày 12/8/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” ; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống; đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, phạm tội gây thiệt hại không lớn. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không đề cập.
. Về biện pháp tư pháp: Xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô trả 01 ti vi cho chủ sở hữ u là chị Huỳ nh Thị Bí ch N . Đối với 01 bao xá c rắ n,01 đôi dé p tông không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điề u 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
2. Về biện pháp tư pháp: Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô trả 01 ti vi cho chị Huỳnh Thị Bích N là chủ sở hữu hợp pháp.
Tịch thu, tiêu hủy 01 bao xá c rắ n,01 đôi dé p tông (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27/12/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Krông Nô; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông; - Bộ phận HSNVCS-CA huyện Krông Nô; - Cơ quan THAHS-CA huyện Krông Nô; - Chi cục THADS huyện Krông Nô; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Tím |