- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ-Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02 /2019/HS-PT Ngày: 07 - 01 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lộc.
Các Thẩm phán: Ông Trần Hưng Bính và ông Tôn Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 154/2018/TLPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 13/2018/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn 1, VX, xã ĐM, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: ao động ph thông; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Th đều đã chết ; v : Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 và c 03 con; tiền án, tiền sự: không.
Về nhân thân: Bị cáo đã tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự năm 1984. Ngày 03/5/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 15 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (Bản án số 32/2007/ HSPT) và đã chấp hành xong bản án vào tháng 5/2008.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/5/2018 đến nay, c mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng khác: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:
Chiều ngày 17/5/2018, Nguyễn Văn Đ sau khi nghỉ làm thì đi về nhà, lúc đi ngang qua nhà anh Nguyễn Đình K ở cùng thôn, Đ thấy trong nhà anh K có một số người đang ngồi uống rư u và hát karaoke thì đi vào với ý định “tham gia hát cho vui”. Nhưng do Đ đã c uống bia từ trước và không đư c tỉnh táo nên anh K là chủ nhà và mọi người đã khuyên Đ về nghỉ ngơi nên Đ đã đi về nhà mình.
Sau khi về nhà đư c một lúc, do bực tức vì anh K và mọi người không cho mình vào hát nên Đ đã lấy một con dao trong nhà mình rồi đi bộ đến nhà anh K gây sự. Thấy vậy, anh Nguyễn Đăng P là người đang ngồi chơi tại nhà anh K) ra can ngăn và đưa Đ về nhà ngủ. Anh P lấy dao từ tay Đ đưa cho con gái của Đ (là chị Huế) cất giữ, sau đ quay lại nhà anh K.
Khoảng 5 phút sau, Đ xuống nhà bếp của mình lấy một cái rìu bằng sắt (dùng để b củi) rồi tiếp tục quay lại nhà anh K. Khi thấy Đ cầm rìu đến đứng trước cửa nhà mình, anh K đi ra để nói chuyện với Đ thì lập tức bị Đ dùng rìu chém một nhát trúng vào vùng trán bên trái của anh K. Anh K bị thương tích và đư c mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viên Trung ương Huế (cơ sở 2).
Tại bản kết luận giám định số 145-18/TgT ngày 18/5/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:
- Dấu hiệu qua giám định: Vết thương trán trái dài 05 cm: 5%; Mẻ bản ngoài sọ trán trái 03 cm, có nhiều mảnh vụn đã đư c phẩu thuật lấy bỏ xương mẻ: 10%.
- Tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 15%.
- Vật gây: Vật tày nặng có cạnh tác động kiểu trư t qua vùng trán trái theo hường từ phải sang trái, chếch trước ra sau.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại là 5.000.000 đồng. Anh K đã nhận đủ tiền bồi thường và c đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về vật chứng thu giữ: 01 cái rìu (cúp) cán bằng gỗ dài 63 cm, lưỡi bằng K loại dài 26 cm, lưỡi có 2 mặt, mặt lưỡi dùng để đào, cuốc rộng 08 cm, mặt lưỡi dùng để b củi rộng 06 cm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 13/2018/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 hai) năm 06 sáu) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam 28/5/2018.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/11/2018, bị cáo Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kết quả xét hỏi tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, đồng thời thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án 02 năm 06 tháng tù là nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đã c cơ sở kết luận: Vào tối ngày 17/5/2018, anh Nguyễn Đình K cùng một số người bạn đang ngồi uống rư u và hát karaoke trong nhà mình thì Nguyễn Văn Đ đi vào nhằm “tham gia hát cho vui”. Nhưng do Đ đã c nồng độ cồn trong người từ trước và không đư c tỉnh táo nên anh K và mọi người đã khuyên Đ về nghỉ ngơi. Sau khi về nhà, Đ đã lấy một con dao đi đến nhà anh K để gây sự thì đư c anh Nguyễn Đăng P là người đang ngồi chơi tại nhà anh K can ngăn và đưa Đ về nhà ngủ. Tuy nhiên, sau đ Đ tiếp tục lấy một cái rìu bằng sắt dùng để b củi) rồi quay lại nhà anh K để gây g . Trong lúc anh K đến nói chuyện với Đ thì bất ngờ bị Đ dùng rìu chém một nhát trúng vào vùng trán bên trái. Hậu quả là anh K bị thương ở vùng trán trái dài 05 cm; mẻ bản ngoài sọ trán trái 03 cm, có nhiều mảnh vụn đã đư c phẩu thuật lấy bỏ xương mẻ. Tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%.
Mặc dù thương tích của người bị hại chỉ 15% nhưng hành vi của bị cáo mang tính côn đồ và bị cáo đã dùng cái rìu bằng sắt để gây án là hung khí nguy hiểm nên Tòa án nhân dân huyện Phong Điền kết án bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 với các tình tiết tăng nặng quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 là c căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ xin giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người c đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đư c tính mạng sức khỏe của người khác đư c pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, chỉ vì không đư c anh K và mọi người đồng ý cho tham gia ngồi hát karaoke mà bị cáo đã sinh lòng tức giận. Sau khi cầm dao đến nhà anh K gây sự thì đư c mọi người can ngăn đưa về nhà, bị cáo tiếp tục lấy cây rìu rồi đến nhà anh K để gây g và chém trúng vào vùng đầu của anh K gây thương tích với tỷ lệ 15%. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Do đ , cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm để giáo dục, răn đe và P ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: c thái độ khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại đã c đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có thời gian tham gia phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại c đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 hai năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/5/2018.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
* Nơi nhận:
| - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh TT - Huế; - P PV27 CA tỉnh TT - Huế; - Trại tạm giam CA tỉnh TT - Huế; - Sở Tư pháp; - TAND huyện Phong Điền; - VKSND huyện Phong Điền; - Công an huyện Phong Điền; - Chi cục THA huyện Phong Điền; - Bị cáo; - Lưu HSVA, HCTP, KTNV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Lộc |