- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận rút yêu cầu kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành P về việc xem xét hành vi của Lê Văn S, Hồ Thanh P đồng phạm với bị cáo Nguyễn Chí L. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HS-PT Ngày 09-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Viết Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thư
Bà Đinh Thị Quý Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phương Tình - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 95/2018/HSPT ngày 05 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Chí L do có kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành P đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 113/2018/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: NGUYỄN CHÍ L; Tên gọi khác: C; Sinh năm: 1989; Tại: Bình Dương; HKTT và chỗ ở hiện nay: tổ 5, khu phố T, phường T, thị xã Đ, Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; Tiền án: không, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/05/2018 cho đến nay. “có mặt”
Người bị hại có kháng cáo: Nguyễn Thành P, sinh năm 1979; Nơi cư trú: tổ 2, khu phố T, phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước. “có mặt”
Người làm chứng:
1.Ông Lê Văn S, sinh năm 1991; Nơi cư trú: tổ 2, khu phố T, phường T, Đ, Bình Phước. “Vắng mặt”
2. Ông Hồ Thanh P, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ 2, khu phố T, phường T, Đ, Bình Phước. “Vắng mặt”
3. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: tổ 2, khu phố T, phường T, Đ, Bình Phước. “Vắng mặt”
4. Bà Lê Thị D, sinh năm 1988; Nơi cư trú: tổ 2, khu phố T, phường T, Đ, Bình Phước. “có mặt”
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Chí T nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Bình Phước thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/4/2017, anh Nguyễn Thành P, sinh năm: 1979, Hồ Thanh P, sinh năm: 1989, Nguyễn Chí L, sinh năm: 1989, Võ Thành L, sinh năm: 1990, Hà Trung H, sinh năm: 1994, K (chưa rõ lai lịch) và anh Nguyễn Thành Hoàng V nhậu chung tại nhà anh V tại: Tổ 2, khu phố T, phường T, thị xã Đ. Khoảng 15 phút sau thì Hồ Thanh P và L rời bàn nhậu đi đến nhà của D ở khu phố 2, phường T, thị xã Đ nhậu chung với Lê Văn S.
Khoảng 15 giờ cùng ngày giữa anh V và anh K xảy ra mâu thuẫn nên xảy ra xô xát nhau, lúc này anh H điện thoại cho anh Hồ Thanh P nói “trên chỗ nhậu hồi trưa có đánh lộn tùm lum” anh Hồ Thanh P có nói lại cho L, anh S biết, đến khoảng 17 giờ cùng ngày L rủ anh Hồ Thanh P, S “đi lên đó xem sao” tất cả đồng ý. L và anh S đi một xe còn anh Hồ Thanh P đi một xe. Trên đường đi xe anh S hết xăng nên dẫn vào nhà chị D (chị của S) cất giữ giùm, L thấy 01 con dao thái lan dài khoảng 20 cm lưỡi nhọn sắc cán màu vàng kích thước: 15cm x 05 cm để ở bếp, nên dắt vào túi (không ai biết), rồi ra xe mô tô anh Hồ Thanh P chở L và anh S đến nhà anh V. Khi đến nhà anh V không thấy ai nên anh Hồ Thanh P và anh S lên xe mô tô để về, còn L chuẩn bị lên xe thì lúc này có anh Nguyễn Thành P vừa đến dựng xe và nói “tụi mày làm gì mà đến đông vậy”, thì L nhảy vào đấm anh Nguyễn Thành P trúng và mặt và vật ngã anh P xuống đất, lúc này anh S và anh Hồ Thanh P chạy đến can ra, nhưng L gạt ra rồi tiếp tục rút dao ở túi quần kề sát cổ anh Nguyễn Thành P nói “mày có tin tao giết mày không” anh Hồ Thanh P dùng tay gạt dao thì trúng ở tay gây thương tích và L tiếp tục đạp vào mặt của anh Hồ Thanh P, thì lúc này S với Hồ Thanh P kéo L ra được. Anh Nguyễn Thành P bị thương tích được mọi người đưa đi cấp cứu Bệnh viện. Riêng L bỏ trốn bị cơ quan điều tra truy nã, đến ngày 13 tháng 5 năm 2018 L đến đầu thú tại Công An thị xã Đ. (Bút lục số: 23,24; 70,73; 79,80; 87,88,89,90; 92,93).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 79/2017/TgT ngày 08/5/2017 của Trung tâm giám định Pháp y tỉnh Bình Phước kết luận bị hại Nguyễn Thành P như sau:
- Chấn thương gãy xương hàm dưới vùng cằm bên trái và góc hàm bên phải đang cố định hàm.
- Sẹo mặt lòng bàn tay trái đốt 3 ngón III kích thước 0,8 x 0,2cm; đốt 3 ngón V kích thước 1,2 x 0,1cm lành tốt.
Tỷ lệ tổn thương do thương tích thương tích gây nên hiện tại là: 29% (hai mươi chín phần trăm). (Bút lục số: 34).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 113/2018/HS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Bình Phước quyết định:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2018.
3. Về trách nhiệm dân sự:
- Áp dụng các điều 589, 590 của Bộ luật dân sự, áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015
Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền còn lại là 55.900.000đồng (Năm mươi lăm triệu chín trăm ngàn đồng).
Tách yêu cầu đối với chi phí phẫu thuật lần hai là 15.000.000đồng của người bị hại ra giải quyết trong vụ án khác khi có đủ các căn cứ pháp luật
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 tháng 11 năm 2018, bị hại Nguyễn Thành P kháng cáo yêu cầu:
- Bị hại yêu cầu xem xét số tiền 10.000.000đ chị Lê Thị D giao cho bị hại không phải là của bị cáo Nguyễn Chí L nên không chấp nhận việc Tòa án ghi nhận số tiền này cho bị cáo;
- Bị hại yêu cầu được nhận số tiền 15.000.000đ mà gia đình bị cáo L đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Đ, tỉnh Bình Phước;
- Ngoài số tiền 60.901.000đ (gồm: chi phí chữa trị là 35.251.000đồng, thu nhập thực tế bị mất của người bị hại trong 03 tháng là 23.400.000đồng, thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho người bị hại là 2.250.000đồng) đã được cấp sơ thẩm chấp nhận, xem xét tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại từ 20.000.000đ thành 60.000.000đ;
- Đề nghị xem xét việc chị Phạm Thị T có tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng không được ghi nhận trong bản án sơ thẩm;
- Xem xét hành vi của Lê Văn S, Hồ Thanh P đồng phạm với bị cáo Nguyễn Chí L;
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị hại Nguyễn Thành P rút yêu cầu kháng cáo Xem xét hành vi của Lê Văn S, Hồ Thanh P đồng phạm với bị cáo Nguyễn Chí L. Giữ nguyên yêu cầu xem xét tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại từ 20.000.000đ thành 60.000.000đ, còn các vấn đề kiến nghị khác không yêu cầu xem xét.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đồng ý tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại từ 20.000.000đ thành 60.000.000đ.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút yêu cầu kháng cáo của bị hại, đình chỉ xét xử phúc thẩm và công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và bị hại về việc tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần từ 20.000.000đ thành 60.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà Hội đồng xét xử Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chí L thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm nhận định. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, đồng thời phù hợp với Kết luận giám định pháp y cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 05/4/2017, khi nghe Hồ Thanh P nói nhóm bạn có đánh nhau thì bị cáo đã rủ Hồ Thanh P và Lê Văn S đến xem thế nào, nhưng khi đến nơi và gặp anh Nguyễn Thành P, mặc dù không có mâu thuẫn với anh Nguyễn Thành P nhưng bị cáo Nguyễn Chí L đã dùng tay chân và hung khí nguy hiểm là con dao thái lan khoảng 20 cm lưỡi nhọn sắc đánh anh Nguyễn Thành P gây thương tích 29%. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử tuyên phạt bị cáo 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Do bị hại không kháng cáo về phần hình phạt nên không đặt ra xem xét.
Đối với số tiền 15.000.000đ gia đình bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Đ tỉnh Bình Phước (nay là Thành phố Đ tỉnh Bình Phước) để bồi thường cho bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định trong phần nội dung nhưng lại không tuyên tại phần quyết định để bị hại có quyền đến Chi cục Thi hành án thị xã Đ, tỉnh Bình Phước nhận lại số tiền trên theo Biên lai thu tiền của Chi cục Thi hành án thị xã Đ, tỉnh Bình Phước là có thiếu xót, cần khắc phục, nhắc nhở rút kinh nghiệm.
Xét kháng cáo của bị hại về việc xem xét hành vi của Lê Văn S, Hồ Thanh P đồng phạm với bị cáo Nguyễn Chí L: Tại phiên tòa bị hại rút yêu cầu kháng cáo về phần này, việc rút kháng cáo là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật cần chấp nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này của bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận việc tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần từ 20.000.000đ thành 60.000.000đ cho bị hại là tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chí L không phải chịu theo quy định pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Chí L phải chịu theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, đ khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Chấp nhận rút yêu cầu kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành P về việc xem xét hành vi của Lê Văn S, Hồ Thanh P đồng phạm với bị cáo Nguyễn Chí L. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này.
Chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thành P yêu cầu bị cáo Nguyễn Chí L tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí L 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2018.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 589, 590 của Bộ luật dân sự, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Chí L với bị hại Nguyễn Thành P về tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần. Bị cáo Nguyễn Chí L tiếp tục bồi thường cho người bị hại Nguyễn Thành P số tiền còn lại là 95.901.000đồng (Chín mươi lăm triệu chín trăm lẻ một nghìn đồng).
Bị hại Nguyễn Thành P được quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ, tỉnh Bình Phước (thành phố Đ, tỉnh Bình Phước) để nhận lại số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 000048 ngày 03/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ, tỉnh Bình Phước.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chí L không phải chịu.
Án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Chí L phải chịu 4.795.000đồng (Bốn triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - TAND, VKSND, CA thành phố Đ; - Chi cục THADS thành phố Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; PV06; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Hùng |