vanban.org

Bản án 02/2019/HNGDD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị Thanh H và anh Đỗ Văn T được ly hôn; Về con chung. Giao cho chị Trần Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đỗ Anh T, sinh ngày 07/03/2012, cho tới khi cháu Đỗ Anh T đủ 18 tuổi. Anh Đỗ Văn T phải có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà - Tân ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/ HNGĐ - ST
Ngày 18/01/2019
(V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Ông Hà Thiện Thành

Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Duy Quyết và ông Đinh Công Hiến

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Hồng – Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

Ngày 18 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2018/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2018 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25/12/2018 giữa các đương sự:

Nguyªn ®¬n: Chị Trần Thị Thanh H, sinh n¨m 1990; địa chỉ: Phố T, thị trấn M, huyện V, tỉnh N; (Có mặt tại phiên toà).

BÞ ®¬n: Anh Đỗ Văn T, sinh n¨m 1984; địa chỉ: Phố T, thị trấn M, huyện V, tỉnh N; (vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 24 tháng 8 năm 2018, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Toà, nguyên đơn là chị Trần Thị Thanh H trình bày: Giữa chị Trần Thị Thanh H và bị đơn là anh Đỗ Văn T, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 03 tháng 9 năm 2011, tại Uỷ ban nhân dân thị trấn M, huyện V. Sau khi kết hôn hai người chung sống cùng nhau tại phố T, thị trấn M, huyện V. Chị H và anh T chung sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do tính tình không hợp, quan điểm sống của hai người khác nhau, không ai quan tâm đến ai. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng vợ chồng không nghe, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, không quan hệ với nhau, hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2018 cho tới nay. Chị H thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị H đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn T.

Về con chung; Chị Trần Thị Thanh H trình bày: Vợ chồng chị có một con chung là cháu Đỗ Anh T, sinh ngày 07/03/2012. Hiện tại chị Trần Thị Thanh H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Nếu được Toà án chấp nhận cho ly hôn, chị H đề nghị chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đỗ Anh T, Anh T có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị mỗi tháng là 1.000.000 đồng.

Về quan hệ tài sản và công nợ chung; chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Anh Đỗ Văn T đã được Tòa án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng cố tình vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Đỗ Văn T (là bị đơn trong vụ án) đã được Toà án nhân dân huyện V triệu tập hợp lệ đến phiên Toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Thanh H và anh Đỗ Văn T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M, huyện V, tỉnh N vào ngày 03/9/2011. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ, sau khi kết hôn hai người sống hoà thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống của hai người khác nhau, không ai quan tâm đến ai. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng vợ chồng không nghe, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Theo thời gian, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, nặng nề, thực tế vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 03 năm 2018 đến nay, cũng từ đó hai người không quan tâm đến nhau, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Điều này phù hợp với đơn xin xác nhân ngày 23/10/2018 do chị H giao nộp cho Tòa án có xác nhận của chi hội phụ nữ, trưởng phố T và UBND thị Trấn M. Toà án nhân dân huyện V đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh Đỗ Văn T cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, không còn thiện chí để tìm cách đoàn tụ vợ chồng, chứng tỏ quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thanh H.

Về quan hệ con chung:

Chị Trần Thị Thanh H và anh Đỗ Văn T có một con chung là cháu Đỗ Anh T, sinh ngày 07/03/2012. Chị H có nguyện vọng được nuôi con chung. Tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy, anh T và chị H đều là người lao động tự do, có thu nhập cháu Đỗ Anh T chưa đủ bẩy tuổi. Trong thời gian trước đây và hiện tại cháu Đỗ Anh T do chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo đảm tốt về mọi mặt. Vì vậy, cần giao cháu Đỗ Anh T cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho tới khi cháu đủ 18 tuổi điều này phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Anh Đỗ Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Đỗ Anh T mỗi tháng là 1.000.000 đồng. Kể từ tháng 01/2019 cho đến khi cháu Đỗ Anh T đủ 18 tuổi. Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị Trần Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản chung, công nợ chung. Vì vậy, vấn đề tài sản chung và công nợ chung, Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chị Trần Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn; anh Đỗ Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 các Điều 81, 82, 83, 107, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật Dân sự; khoản 4 §iÒu 147; ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227, kho¶n 3 §iÒu 228 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trần Thị Thanh H và anh Đỗ Văn T được ly hôn;

2. Về con chung. Giao cho chị Trần Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đỗ Anh T, sinh ngày 07/03/2012, cho tới khi cháu Đỗ Anh T đủ 18 tuổi. Anh Đỗ Văn T phải có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trần Thị Thanh H 1.000.000 đồng/1 tháng. Kể từ tháng 01 năm 2019 cho đến khi cháu Đỗ Anh T đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Trong tr êng hîp bªn cã nghÜa vô trËm tr¶ tiÒn th× bªn ®ã ph¶i tr¶ l·i ®èi víi sè tiÒn chËm tr¶ tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Được khấu trừ 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên lai số AA/2013/0001105 ngày 04/9/2018.

Anh Đỗ Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ