vanban.org

Bản án 02/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1.

Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1, giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Nguyễn Thị Hƣơng T, sinh ngày 03/10/2007; giao cho anh H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Nguyễn Thái B, sinh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/HNGĐ-ST
Ngày 15/02/2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ pH toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và bà Nguyễn Thị Hạnh Thu.

- Thư ký pH tòa: Ông Mai Văn Việt - thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia pH toà: Bà Vũ Thị Hƣơng - kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 292/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/01/2019 và Quyết định hoãn pH tòa số 02/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30/01/2019 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; đăng ký HKTT: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng; chỗ ở hiện tại: Thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dƣơng.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985; đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.

Ngƣời làm chứng: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958; trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dƣơng.

Chị H, anh H1 có mặt, bà Hay vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn với nhau vào ngày 08/12/2006 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị sống cùng anh H1 ở nhà anh H1 tại thôn An Tân, xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, cuộc sống chung thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H1 mải chơi, không tu chí làm ăn, không vun vén cho gia đình. Đến năm 2015, do kinh tế gia đình khó khăn nên chị đã đi xuất khẩu lao động ở nƣớc ngoài. Thời gian này mâu thuẫn giữa chị và anh H1 trở nên trầm trọng vì lý do chị gửi tiền về để anh H1 trả nợ nhƣng anh H1 không trả nợ mà chi tiêu cá nhân hết, anh H1 còn nghi ngờ chị không chung thủy nên thƣờng xuyên gọi điện chửi bới, lăng mạ chị. Chị thấy tình cảm dành cho anh H1 không còn nên khi hết hạn lao động ở nƣớc ngoài (đầu năm 2018), chị đã về nhà mẹ đẻ ở xã, Huyện K sống, chị và anh H1 ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Chị đề nghị Tòa án cho chị đƣợc ly hôn anh H1.

Về quan hệ con chung: Chị và anh H1 có hai con chung là Nguyễn Thị Hƣơng Thảo, sinh ngày 03/10/2007 và Nguyễn Thái Bảo, sinh ngày 11/10/2012, cháu Thảo hiện đang ở cùng chị còn cháu Bảo đang ở cùng anh H1. Chị đề nghị đƣợc nuôi con là Nguyễn Thị Hƣơng T, để cho anh H1 nuôi con là Nguyễn Thái B, hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản, tài liệu cho bị đơn là anh Nguyễn Văn H1 và nhiều lần triệu tập anh H1 đến Tòa án giải quyết vụ ly hôn nhƣng anh H1 không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị H.

Tòa án tiến hành làm việc với lãnh đạo UBND xã Nguyên Giáp, cán bộ Tƣ pháp xã, đại diện Hội phụ nữ và trƣởng thôn An Tân, xã Nguyên Giáp (nơi anh H1 cƣ trú) để xác minh tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1. Tại biên bản xác minh ngày 27/12/2018, đại diện lãnh đạo xã cùng đại diện ban, hội của địa phƣơng đều xác nhận chị H và anh H1 đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2018 đến nay. Nay chị H xin ly hôn anh H1, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngƣời làm chứng là bà Nguyễn Thị Hay (là mẹ anh H1) trình bày: Sau khi cƣới, chị H và anh H1 sống cùng nhà với bà và anh chị phát sinh một số mâu thuẫn nhƣng là mâu thuẫn nhỏ, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, anh H1 mải chơi, chƣa tu chí làm ăn. Tuy nhiên, sau khi chị H đi nƣớc ngoài một thời gian thì chị H không còn quan tâm đến chồng con nữa, đầu năm 2018 chị H về nƣớc và đã về nhà bố mẹ đẻ ở huyện K sống, không chung sống cùng anh H1, chị H và anh H1 đã ly thân nhau từ đầu năm 2018 đến nay.

Cháu Nguyễn Thị Hƣơng T, sinh ngày 03/10/2007 (là con chị H và anh H1) trình bày hiện đang học lớp 6, trƣờng THCS L, huyện K và có nguyện vọng đƣợc ở cùng mẹ là chị H.

Đại diện Cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở địa phƣơng bày tỏ quan điểm đề nghị Tòa án giao cho chị H và anh H1 mỗi ngƣời nuôi một con vì hiện nay cháu Nguyễn Thị Hƣơng T đang sống cùng chị H, còn cháu Nguyễn Thái B đang sống cùng anh H1, cả chị H và anh H1 đều có điều kiện kinh tế ngang nhau để đảm bảo việc nuôi con.

Toà án đã tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vụ án theo quy định của pháp luật nhƣng anh H1 không đến tham gia nên vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 30/01/2019, bị đơn là anh Nguyễn Văn H1 đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng không đến tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà.

Tại phiên toà này, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh H1 và đề nghị đƣợc nuôi con là Nguyễn Thị Hƣơng T. Anh H1 có mặt tại phiên tòa và xác định nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do chị H đi ngoại tình nên anh cũng nhất trí ly hôn chị H. Về con chung, anh đồng ý để chị H nuôi cháu T và anh nuôi cháu B, hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau. Ngoài ra, anh H1 còn đề nghị Tòa án giải quyết việc vay nợ giữa anh và chị H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ có quan điểm xác định việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H là đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền - nghĩa vụ của mình, bị đơn trong thời gian chuẩn bị xét xử đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hƣớng giải quyết vụ án: tại phiên tòa, anh H1 nhất trí ly hôn và đồng ý để chị H nuôi cháu T, anh H1 nuôi cháu B nên đề nghị HĐXX áp dụng các điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H và anh H1; công nhận sự thỏa thuận của chị H và anh H1, giao cho chị H nuôi con là Nguyễn Thị Hƣơng T, giao cho anh H1 nuôi con là Nguyễn Thái B, hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau; về án phí: chị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, cña đƣơng sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1 tự nguyện kết hôn và đã đƣợc UBND xã Nguyên Giáp đăng ký, cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/12/2006 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Cả chị H và anh H1 đều khẳng định anh chị có nhiều mâu thuẫn, chị H cho rằng nguyên nhân do anh H1 mải chơi, không tu chí làm ăn, nghi ngờ chị ngoại tình và thƣờng có lời lẽ xúc phạm, lăng mạ chị, còn anh H1 xác định nguyên nhân là do chị H đi ngoại tình nhƣng không có căn cứ chứng minh. Điều đó thể hiện anh chị không có sự tin tƣởng và tôn trọng nhau, anh chị đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa, anh H1 nhất trí ly hôn với chị H. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc, sự thuận tình ly hôn của chị H và anh H1 là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Tại phiên tòa, chị H và anh H1 đã thống nhất để chị H tiếp tục nuôi con là Nguyễn Thị Hƣơng T và để anh H1 tiếp tục nuôi con là Nguyễn Thái B, hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau. HĐXX thấy rằng sự thỏa thuận của chị H, anh H1 phù hợp với nguyện vọng của cháu T, phù hợp với quan điểm của đại diện cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở địa phƣơng, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên đƣợc chấp nhận.

Về quan hệ tài sản chung: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết quan hệ tài sản và nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh H1 đến Tòa án lấy lời khai cũng nhƣ hòa giải nhƣng anh H1 không đến, cũng không bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề tài sản và nợ chung. Tại phiên tòa, anh H1 đề nghị giải quyết việc vay nợ nhƣng không trình bày đƣợc cụ thể nội dung, cũng không xuất trình đƣợc chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên HĐXX không có căn cứ giải quyết việc vay nợ giữa anh và chị H trong vụ án này. Nếu sau này anh H1 có đơn yêu cầu giải quyết việc vay nợ chung của vợ chồng, cũng nhƣ cung cấp các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì sẽ đƣợc xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 cña ñy ban th êng vô Quèc héi quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1.

2. Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn H1, giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Nguyễn Thị Hƣơng T, sinh ngày 03/10/2007; giao cho anh H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con là Nguyễn Thái B, sinh ngày 11/10/2012 từ tháng 02/2019 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chị H và anh H1 không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2017/0000724 ngày 04/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.

4. Về quyền kháng cáo: Các đƣơng sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. ơNơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đƣơng sự;

Cỡ chữ