- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Võ Thị Thanh Th và Nguyễn Xuân Ph"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 3 năm 2019. V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trƣơng Nam Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hà và bà Nguyễn Thị Mà.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Thạch – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đình Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 79/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thanh TH – Sinh năm: 1984.
Địa chỉ: Làng B, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân PH - Sinh năm: 1980.
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/9/2018, tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị Thanh TH yêu cầu khởi kiện như sau:
Bà và ông Nguyễn Xuân PH sống chung với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai vào ngày 25 tháng 5 năm 2005. Việc kết hôn của ông bà là hoàn toàn tự nguyện, trước khi kết hôn ông bà đã có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau, được sự đồng ý của gia đình hai bên có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương.
Sau khi kết hôn bà TH và ông PH chung sống với nhau nhưng chỉ được hạnh phúc trong thời gian ngắn, rồi sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, khác nhau về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau, sống với nhau nhưng không có sự tin tưởng, yêu thương, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau. Ông PH không quan tâm đến cuộc sống gia đình, không chịu lo làm ăn và thường xuyên uống rượu rồi về nhà kiếm chuyện đánh đập bà. Từ năm 2014 đến nay bà và ông PH không sống chung với nhau, bà TH cùng con ra ngoài thuê nhà để ở.
Nay bà TH xác định mình không còn tình cảm gì với ông PH nữa, cuộc sống chung của vợ chồng cũng không còn có hạnh phúc nên bà TH yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Xuân PH.
Về con chung: Bà Võ Thị Thanh TH và ông Nguyễn Xuân PH có một con chung là Nguyễn Võ Trúc N - sinh ngày 08 tháng 10 năm 2006. Bà TH có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con Nguyễn Võ Trúc N và không yêu cầu ông PH đóng góp nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà TH không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà TH xác định không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Thanh TH đã cung cấp các tài liệu chứng cứ gồm bản gốc giấy chứng nhận kết hôn mang tên Nguyễn Xuân PH – Võ Thị Thanh TH do Ủy ban nhân dân thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp số 11, quyển số I/2005 ngày 25 tháng 05 năm 2005; Bản photocopy có chứng thực giấy khai sinh mang tên Nguyễn Võ Trúc Ngân - sinh ngày 08 tháng 10 năm 2006 và đơn xác nhận nơi cư trú ngày 24 tháng 9 năm 2018.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân PH: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ, thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng ông PH không đến Tòa án để tham gia tố tụng, không đến tham gia phiên tòa nên không có lời khai tại hồ sơ vụ án và không có lời khai tại phiên toà.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt nên không có lời trình bày trong hồ sơ vụ án, không đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về quan hệ hôn nhân giữa bà TH và ông PH có đăng ký kết hôn theo quy định là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống bà TH và ông PH đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống cũng không có hạnh phúc và từ lâu nay bà TH và ông PH cũng không còn chung sống với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn của hai vợ chồng bà TH và ông PH đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà TH. Về con chung: Bà TH và ông PH có một con chung là Nguyễn Võ Trúc Ngân, bà TH có nguyện vọng được nuôi con, cháu Ngân cũng có nguyện vọng được ở với bà TH. Vì vậy đề nghị giao con chung Nguyễn Võ Trúc N cho bà Võ Thị Thanh TH nuôi dưỡng là phù hợp. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà TH phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 28/11/2018; tham gia phiên hòa giải vào các ngày 28/11/2018 và ngày 08/01/2019; tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm vào các ngày 08/3/2019 và ngày 28/3/2019 nhưng ông Nguyễn Xuân PH đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thanh TH và ông Nguyễn Xuân PH kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai vào ngày 25/5/2005 nên quan hệ hôn nhân giữa bà TH và ông PH là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì vợ chồng bà TH và ông PH bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, khác nhau về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau, sống với nhau nhưng không có sự tin tưởng, yêu thương, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau. Ông PH thường xuyên say xỉn không quan tâm đến cuộc sống gia đình nên từ lâu bà TH và ông PH không chung sống với nhau, mặc dù được gia đình hai bên tổ chức hòa giải nhưng tình trạng hôn nhân của ông bà vẫn không được cải thiện. Mâu thuẫn giữa bà TH và ông PH đã được thôn trưởng thôn Châu Khê, xã Đak Yă xác nhận ngày 17/10/2018. Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà TH và ông PH như vậy là đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà TH.
Về con chung: Bà TH và ông PH có 01 con chung là cháu Nguyễn Võ Trúc Ngân - sinh ngày 08 tháng 10 năm 2006, bà TH có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông PH đóng góp nuôi con, cháu Ngân cũng có văn bản trình bày nguyện vọng xin được ở với bà TH, điều đó cũng phù hợp với nguyện vọng của bà TH nên giao cháu Nguyễn Võ Trúc N cho bà Võ Thị Thanh TH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Do bà TH không yêu cầu ông PH đóng góp nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà Võ Thị Thanh TH không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về nợ chung: Bà Võ Thị Thanh TH xác định không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Võ Thị Thanh TH là nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thanh TH.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Thanh TH được ly hôn với ông Nguyễn Xuân PH (Giấy chứng nhận kết hôn được UBND thị trấn K, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp số 11, quyển số I/2005 ngày 25 tháng 5 năm 2005).
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Võ Trúc N - sinh ngày 08 tháng 10 năm 2006 cho bà Võ Thị Thanh TH trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thị Thanh TH không yêu cầu ông Nguyễn Xuân PH phải đóng góp nuôi con chung.
Về án phí: Bà Võ Thị Thanh TH phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004988 ngày 12/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Võ Thị Thanh TH đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Thời hạn kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/3/2019), nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
| Nơi nhận -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND huyện Mang Yang; -UBND thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. -Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trƣơng Nam Trung |