- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHẠM VĂN T - NGUYỄN THỊ U"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 14 và 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều …
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2019/HNGĐ-ST Ngày: 14/02/2019 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Trần Thu Trang.
2- Bà Trần Thị Mộng Lành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 02 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 238/2018/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 12 năm 2018 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXX-ST, ngày 17 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh ngày 01/01/1966 (có mặt)
2- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/8/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Văn T trình bày và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Ông T và bà Nguyễn Thị U cưới nhau vào năm 1988, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luạt. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2005 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất động quan điểm trong cuộc sống nên thường cự cải nhau, từ đó vợ chồng đã ly thân từ năm 2008 cho đến nay. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên ông yêu cầu ly hôn với bà U.
Về con chung: Có 02 người con tên Phạm Thị P, sinh 1989 và Phạm Thị N, sinh năm 1994, các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng có 10 công đất ruộng tầm 3 mét (có giấy chứng nhận QSD đất ông Phạm Văn T đứng tên), tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nay ông không yêu cầu Tòa giải quyết mà vợ chồng tự thỏa thuận với nhau.
Về nợ chung: Ông Phạm Văn T thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản hòa giải ngày 17/01/2019 bị đơn bà Nguyễn Thị U trình bày: Bà thừa nhận theo lời trình bày của ông Phạm Văn T về hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và phần nợ nêu trên là hoàn toàn đúng.
Theo yêu cầu của ông T thì bà có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Phạm Văn T.
Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Bà thừa nhận vợ chồng có 10 công đất ruộng tầm 3 mét, để tự vợ chồng thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Bà thừa nhận không có nên không yêu cầu tòa giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, ông Phạm Văn T vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình bày nêu trên. Ngoài ra không có ý kiến và yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị U vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Đối với bà Nguyễn Thị U được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị U.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị U kết hôn với nhau vào năm 1988, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông T và bà U là không hợp pháp.
Tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Khoản 1 Điều 14 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 53 và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị U.
Về con chung: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị U có 02 người con tên Phạm Thị P, sinh 1989 và Phạm Thị N, sinh năm 1994, các con đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị U tự thỏa thuận mà không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thi U thừa nhận không có nên không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc ông Phạm Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0006762, ngày 28/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 14 và 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị U.
2. Về con chung: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị U có 02 người con tên Phạm Thị P, sinh 1989 và Phạm Thị N, sinh năm 1994, các con đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét.
3. Về tài sản chung: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị U tự thỏa thuận mà không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về nơ chung: Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị U thừa nhận không có nên không xem xét.
5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Buộc ông Phạm Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0006762, ngày 28/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy ông T đã nộp đủ tiền án phí.
6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho ông T có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/02/2019). Đối với chị U vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - THADS huyện An Biên; - UBND xã Đông Thái;. - Các đương sự;; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Phạm Thanh Tâm |