- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "V/v Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Sửa B n án dân sự sơ thẩm s 13/2018/DS-ST ngày 26/10/2018 của T a án nhân dân huyện N về tranh chấp “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật T tụng Dân sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự; Điều 585 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
N N N N
CỘN
X Ộ C Ủ N Ĩ V Ệ N M
N
N N
– d - nh hú B n án s : 02/2019/DSPT
Ngày 16-01-2019 V/v Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức
khỏe bị xâm phạm
NHÂN DANH
NƯỚC CỘN
X Ộ C Ủ N Ĩ V Ệ N M
T
N N N N N
N N
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Tiến
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Mỹ Giang;
Ông Trần Mười.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Lương – Thư k T a án nhân dân t nh u ng Ng i.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Ông Võ Văn uyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 16 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở T a án nhân dân t nh u ng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l s 02/2018/TLPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2018, về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do B n án dân sự sơ thẩm s 13/2018/DSST ngày 26 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N, t nh u ng Ng i bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s 03/2019/ Đ-PT ngày 07 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đ V H, sinh năm 1964.
Địa ch : Thôn T, x H, huyện N, t nh u ng Ng i.
- Bị đơn:
1. Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam.
Địa ch : S nhà 57, đường H, phường L, quận Đ, Thành ph Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông P Đ L, chức vụ: Tổng Giám đ c.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Đức T, chức vụ: Giám đ c – Trưởng đại diện Viễn thông u ng Ng i.
Người được ủy quyền lại: Ông Ngô Minh T2, chức vụ: Giám đ c Trung tâm Viễn thông khu vực 4; địa ch : Trung tâm Viễn thông khu vực 4, tổ dân ph 3, thị trấn L, huyện T, t nh u ng Ng i (Theo văn b n ủy quyền ngày 22/8/2018).
2. Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Gỗ H D.
Địa ch : Khu Công nghiệp Đ, tổ dân ph P, thị trấn C, huyện N, t nh u ng Ng i.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị Kim Q, chức vụ: Giám đ c.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Ngọc M, cư trú tại thôn Đ, xã S, huyện S, t nh u ng Ng i (theo Giấy ủy quyền ngày 16/01/2019).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đ C, sinh năm 1982; địa ch : Thôn M, x L, huyện M, t nh u ng Ngãi
2. Bà Phạm Thị M, sinh năm 1965; địa ch : Thôn T, x H, huyện N, t nh u ng Ng i.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đ V H, bị đơn Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Gỗ H D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ C.
NỘ
N V N:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đ V H trình bày:
Ngày 07/02/2018, ông Đ C là lái xe của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Gỗ H D, điều khiển xe ô tô biển s 76C – 078.82 trên đường t nh lộ 624 vướng vào dây cáp thông tin của Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam, làm trụ điện bê tông n i dây cáp thông tin bị g y và ng trúng vào người ông khi ông đang đứng ở lề đường, dẫn đến gây thương tích, tổn hại sức khỏe cho ông với tỷ lệ 32%.
Do đó, ông yêu cầu T a án gi i quyết buộc Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Gỗ H D và ông Đ C liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông với s tiền tổng cộng là 190.618.417đ, trong đó:
- Chi phí điều trị: 59.718.417đ;
- Chi phí bồi thường, phục hồi sức khỏe và chức năng bị gi m sút (Tạm tính đến tháng 9/2018) là 07 tháng; mỗi tháng 3.000.000đ, thành tiền 07 tháng x 3.000.000đ/tháng = 21.000.000đ;
- Tiền mất thu nhập của người bị thương tích từ ngày 07/02/2018 tạm tính đến ngày 07/7/2018 là 150 ngày, mỗi ngày 200.000đ, thành tiền là 150 ngày x 200.000đ/ngày = 30.000.000đ;
- Tiền mất thu nhập của người theo nuôi – chị Phạm Thị M trong thời gian điều trị từ ngày 07/02/2018 đến ngày 30/3/2018 là 52 ngày, mỗi ngày 200.000đ, thành tiền là 52 ngày x 200.000đ/ngày = 10.400.000đ;
- Tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương t i thiểu là 50 tháng x 1.390.000đ/tháng = 69.500.000đ.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn – Công ty Trách nhiện Hữu hạn Gỗ H D (Công ty) trình bày:
Ngày 06/02/2018, ông có điều ông C lái xe ô tô biển s 76C–078.82 để chở xe đào từ huyện Ba Tơ về trụ sở Công ty, nhưng t i hôm 06/2/2018, ông C để hai xe tại cầu Cộng H a để ngh , sáng hôm sau ông C điều khiển xe về trụ sở Công ty, khi đến địa phận Thôn T, xã H, huyện N thì vướng vào dây điện thoại làm ng trụ điện, gây thương tích cho ông H. Xe ô tô biển s 76C – 078.82 của Công ty theo thiết kế là xe thùng hở được phép chở hàng, khi chở hàng cho phép về độ cao tính từ mặt đất lên cao là 4,2m, nhưng điểm vướng vào dây cáp điện thoại tại phần trên của xe máy đào là 3,83m, theo quy định độ cao dây cáp điện bắt qua đường là 5,5m, do đó Công ty không có lỗi nên Công ty không đồng bồi thường cho ông H, tuy nhiên Công ty đ hỗ trợ cho ông H s tiền 11.000.000đ.
Theo thông báo của Công an huyện N thì Công ty không có lỗi nên Công ty không yêu cầu bên Công ty b o hiểm chi tr cho Công ty để Công ty bồi thường cho ông H, nếu T a án xác định do lỗi của Công ty ph i bồi thường cho ông H, Công ty sẽ làm hồ sơ yêu cầu B o hiểm bồi thường, vì do Công ty có mua b o hiểm dân sự cho chiếc xe ô tô gây tai nạn mang biển kiểm soát 76C-078.82.
Nếu T a án xác định lỗi của ông Đ C thì ông C ph i bồi thường cho ông H vì tại hợp đồng lao động k ngày 01/01/2018 của Công ty với ông Đ C thì nếu ông C gây tai nạn thì ông C ph i tự bồi thường cho người bị nạn.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (viết tắt là Tập đoàn), ông Ngô Minh T2, trình bày:
Nguyên nhân gây ra tai nạn cho ông H là do xe t i ông Đ C điều khiển chở xe máy đào kéo dây cáp hoặc cần trục của máy đào bị xoay ngang, va đập, làm ng trụ điện, gây thương tích cho ông H. Việc dây cáp điện bị võng xu ng là do trong đêm ngày 06/02/2018, có xe khác va vào trụ điện, làm trụ điện mắc dây cáp bị nghiêng. Do đó Tập đoàn không có lỗi trong việc độ cao dây cáp điện không đủ độ cao an toàn khi bắt ngang qua đường t nh lộ 624 làm vướng vào xe t i do ông C điều khiển, dẫn đến ng trụ điện, gây thương tích cho ông H. Tuy nhiên, Tập đoàn cũng đ hỗ trợ cho ông H s tiền 5.000.000đ. Nay ông H và bà M yêu cầu Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam bồi thường, Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông không đồng bồi thường.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn bà Phạm Thị M trình bày:
Bà đồng với yêu cầu của nguyên đơn, s tiền bà được bồi thường thiệt hại bà đề nghị T a án giao cho chồng bà là ông H nhận.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đ C trình bày:
Chiều ngày 06/02/2018, ông điều khiển xe ô tô biển s 76C-078.82 chở xe máy đào từ huyện B về Công ty nhưng do mệt nên ông để xe tại cầu Cộng Hòa để sáng hôm sau đi tiếp. Sáng ngày 07/02/2018, ông điều khiển xe ô tô mang biển s 76C-078.82 chở xe máy đào đi tiếp thì bị vướng dây cáp gây đổ trụ bê tông đè vào người ông H. Nếu T a án xác định ông là người có lỗi thì ông sẽ bồi thường cho ông H, bà M.
Bản án số 13/2018/DSST ngày 2 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ VH. Buộc Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Gỗ H D, ông Đ C ph i liên đới bồi thường cho ông Đ VH s tiền tương ứng với phần lỗi, trong đó: Ông Đ C ph i bồi thường: 15.181.923đ; Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam ph i bồi thường: 68.318.656đ; Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Gỗ H D ph i bồi thường: 57.318.656đ.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ V H đ i với s tiền 38.799.181đ.
Ngoài ra, b n án sơ thẩm c n tuyên về l i suất chậm thi hành án, án phí, quyền khởi kiện và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/11/2018 và 09/11/2018, nguyên đơn ông Đ VH, bị đơn Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Gỗ H D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ C có đơn kháng cáo với nội dung:
- Ông Đ V H kháng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm gi i quyết tăng tiền tổn thất tinh thần là 50 tháng lương t i thiểu và tiền mất ngày công lao động của người nuôi là 52 ngày.
- Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Gỗ H D kháng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm xem xét lại phần lỗi của Công ty, gi i quyết không buộc Công ty bồi thường cho ông H s tiền 57.318.656đ.
- Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam kháng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm xem xét lại phần lỗi của Tập đoàn, gi i quyết không buộc Tập đoàn bồi thường cho ông H s tiền 68.318.656đ.
- Ông Đ C kháng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm gi i quyết xem xét lại phần lỗi của Tập Đoàn và của ông C, gi i quyết không buộc ông C bồi thường cho ông H s tiền 15.181.923đ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư k phiên t a kể từ khi thụ l vụ án đều thực hiện đúng theo quy định tại Điều 285, 286, 287, 294 và Điều 298 của Bộ luật t tụng dân sự năm 2015. Các đương sự từ khi T a cấp phúc thẩm thụ l vụ án cho đến thời điểm xét xử đ thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72, 73, 75, 76 và Điều 234 Bộ luật t tụng dân sự năm 2015. Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong hạn qui định là hợp lệ.
- Về nội dung:
Đ i với kháng cáo của nguyên đơn ông Đ V H: B n án sơ thẩm đ chấp nhận tiền thiệt hại về tổn thất tinh thần là 35 tháng lương cơ b n, thành tiền là: 48.650.000đ và chấp nhận bồi thường ngày công người nuôi của bà Phạm Thị M trong thời gian chăm sóc ông H 44 ngày là thỏa đáng, phù hợp với kho n 2 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó kháng cáo của ông H là không có căn cứ.
Đ i với kháng cáo của ông Đ C: Ông Đ C là người điều khiển xe ô tô nhưng không quan sát kỹ không gian phía trước, không đ m b o an toàn khi xe lưu thông trên đường bộ dẫn đến xe máy đào trên thùng xe t i đ vướng vào dây cáp kéo ng trụ điện, đây là nguyên nhân trực tiếp gây tổn hại cho sức khỏe ông H nên ông C kháng cáo cho rằng không có lỗi và không chịu trách nhiệm bồi thường là không có căn cứ.
Đ i với Tập Đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam thì chiều cao của dây cáp điện thoại khi băng qua đường không cao hơn hoặc bằng 5,50 mét, khi x y ra tai nạn Tập Đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam đ vi phạm tại kho n 3 Điều 21 nghị định 11/2010/NĐ – CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ quy định về qu n l và b o vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, hành vi này là nguyên nhân gián tiếp gây tổn hại cho sức khỏe ông H. Người đại diện theo ủy quyền của Tập Đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam cho rằng việc dây cáp điện bị võng xu ng là do trong đêm ngày 06/02/2018 có xe khác va vào trụ điện làm trụ điện mắc dây cáp bị nghiêng nhưng không chứng minh được nên kháng cáo cho rằng không có lỗi và không chịu trách nhiệm bồi thường là không có căn cứ.
Đ i với Công ty TNHH gỗ H D thì tại Hợp đồng thuê lái xe k ngày 01/01/2018 giữa Giám đ c Công ty TNHH gỗ H D với ông Đ C có ghi ông C chịu trách nhiệm bồi thường mọi thiệt hại do lỗi mình gây ra cho bên A cho xe ô tô và bên thứ 3 liên quan, tuy nhiên căn cứ Điều 600 Bộ luật Dân sự năm 2015 đ quy định “Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo qui định của pháp luật”.
Do đó Công ty H D; Tập Đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam mỗi đơn vị ph i chịu ½ tổng thiệt hại đ gây ra cho ông H.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ kho n 2, Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông Đ V H; Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam; Công ty Trách nhiệm hữu hạn gỗ H D; ông Đ C, sửa một phần b n án sơ thẩm theo hướng đ phân tích.
N ẬN ỊN CỦ Ộ ỒN XÉ XỬ:
[1] Sáng ngày 07/02/2017, ông Đ C là hợp đồng lái xe của Công ty TNHH Gỗ H D (Công ty) điều khiển xe ô tô mang biển s 76C-078.82 chở trên thùng xe 01 xe máy đào của Công ty. Khi xe chạy trên đường T nh lộ 624 tại Thôn T, x H, huyện N thì phần trên của xe máy đào vướng vào dây cáp thông tin của Công ty Viễn thông u ng Ng i thuộc Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam (Tập đoàn) làm cho cột bê tông n i dây cáp thông tin bị g y ng vào người ông Đ VH đang đứng ở lề đường, gây thương tích cho ông H, ông H ph i đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa t nh u ng Ng i và Bệnh viện chấn thương ch nh hình thành ph Hồ Chí Minh, hậu qu bị g y xương sườn s 3, 4, trật khớp háng, g y ngành ngồi mu ph i. Đến ngày 02/3/2018 ông H được ra viện. Tại Kết luận s 52/2018/GĐPY ngày 06/4/2018 của Ph ng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa t nh u ng Ng i kết luận tỷ lệ thương tật của ông Đ VH là 32%.
Ông H khởi kiện yêu cầu Tập đoàn, Công ty và ông Đ C bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông tổng cộng s tiền là 190.618.417đ. B n án sơ thẩm chấp nhận một phần nội dung khởi kiện của ông H với tổng s tiền bồi thường là 151.819.236đ, buộc Tập đoàn bồi thường 68.318.000đ (trước đó Tập đoàn đ bồi thường 5.000.000đ, tại phiên T a sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của Tập đoàn kiến nếu buộc Tập đoàn bồi thường thì Tập đoàn không trừ s tiền này vào s tiền bồi thường); Công ty ph i bồi thường 68.318.000đ, đ bồi thường trước 11.000.000đ, nên c n ph i bồi thường tiếp là 57.318.000đ; ông Đ C ph i bồi thường 15.181.923đ, Sau khi có b n án sơ thẩm thì Tập đoàn, Công ty, anh Đ C đều kháng cáo cho rằng không có lỗi nên không bồi thường cho ông Đ V H. Ông Đ V H kháng cáo yêu cầu bồi thường cho ông về tổn thất về tinh thần là 50 tháng lương t i thiểu và tính ngày công cho người nuôi là 52 ngày.
[2] Xét kháng cáo của các đương sự thấy rằng, ông Đ C là người có giấy phép lái xe phù hợp. Tuy nhiên, trong khi điều khiển ô tô, do thiếu quan sát nên đ để phần trên của xe đào đang để trên thùng xe t i vướng vào dây cáp viễn thông làm g y trụ bê tông đỡ n i dây viễn thông gây thương tích cho ông H. Tại điểm dây cáp vướng vào xe đào ở độ cao 3,83m so với mặt đất. Như vậy, ông Đ C là người có lỗi trực tiếp trong việc làm g y trụ bê tông. Ông Đ C và đại diện theo ủy quyền của Công ty đều khai ông Đ C là hợp đồng lái xe cho Công ty đ được 03 năm, hợp đồng được k hàng năm, vào thời điểm ông Đ C lái xe gây tai nạn cho ông H thì Công ty cung cấp cho T a án cấp sơ thẩm b n hợp đồng thuê lái xe, được k ngày 01/01/2018 giữa Công ty với ông Đ C có hiệu lực đến ngày 01/01/2019, nội dung Công ty thuê ông Đ C lái xe t i biển kiểm soát 76C-078.82. Như vậy, ông Đ C là người thực hiện công việc của Công ty, Công ty là một pháp nhân. Điều 597 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra như sau: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”. Mặt khác. Căn cứ Kết luận giám định tư pháp s 564/SGTVT-KLGĐ ngày 20/3/2018 của Sở giao thông vận t i t nh u ng Ng i thì xe ô tô biển s 76C-078.82 chiều cao của l ng thùng thực tế là 2.300mm, không đúng theo hồ sơ phương tiện (2.150mm). Như vậy, thùng xe đ được cơi nới không đúng thiết kế. Do đó, Công ty ph i chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Đ VH, trách nhiệm giữa Công ty với ông Đ C sẽ được gi i quyết theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu.
[3] Theo uy chuẩn kỹ thuật qu c gia QCVN 33:2011/BTTTT ngày 14/4/2011 của Bộ thông tin và Truyền thông về lắp đặt mạng cáp ngoại vi viễn thông, thì độ cao t i thiểu của dây cáp viễn thông treo ngang qua đường là 5,5m, nhưng vào thời điểm xe ô tô của Công ty vướng vào dây cáp tại điểm có độ cao là 3,83m, như vậy độ cao của dây cáp viễn thông đ vi phạm uy chuẩn kỹ thuật qu c gia và vi phạm kho n 3 Điều 21 Nghị định s 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ, quy định về qu n l và b o vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ (kho n 3 quy định chiều cao đường dây thông tin đi phía trên đường bộ ph i b o đ m kho ng cách t i thiểu từ điểm cao nhất của mặt đường đến đường dây thông tin theo phương thẳng đứng là 5,50 mét). Tại Điều 605 Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác…”. Như vậy, Tập đoàn Bưu chính -Viễn thông Việt Nam cũng ph i liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh H.
- Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam khai, trong đêm ngày 06/02/2018 có xe t i chở keo đ vướng vào dây cáp viễn thông kéo dây võng xu ng nên Tập đoàn không có lỗi. Như nhận định trên thì Tập đoàn vẫn ph i có trách nhiệm bồi thường cho ông H. Nếu có căn cứ cá nhân, tổ chức gây thiệt hại cho Tập đoàn thì Tập đoàn có quyền yêu cầu xử l cá nhân, tổ chức gây thiệt hại theo pháp luật hoặc khởi kiện yêu cầu bồi thường về dân sự.
Như vậy, cần buộc Tập đoàn và Công ty, mỗi pháp nhân ph i bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Đ VH ½ giá trị thiệt hại. B n án sơ thẩm buộc ông Đ C ph i liên đới chịu bồi thường với mức độ là 1/10 giá trị thiệt hại, phần c n lại mỗi pháp nhân ½ là không chính xác.
[4] Ông Đ V H kháng cáo yêu cầu bồi thường tính s ngày chăm sóc của người nuôi là 52 ngày (b n án sơ thẩm chấp nhận là 44 ngày) và yêu cầu bồi thường tổn hại sức khỏe cho ông là 50 tháng lương t i thiểu (b n án sơ thẩm tính 35 tháng). Xét b n án sơ thẩm đ tính đúng s ngày bà M là vợ ông theo nuôi trong thời gian ông nằm viện 44 ngày là chính xác, ông bị tổn hại sức khỏe 32% nên buộc bồi thường 35 tháng lương t i thiểu là phù hợp.
Do đó, không chấp nhận kháng cáo của Tập đoàn, của Công ty, của ông H, chấp nhận kháng cáo của ông Đ C; giữ nguyên b n án sơ thẩm về s tiền bồi thường cho ông Đ V H là 151.819.236đ; sửa bán án sơ thẩm về trách nhiệm bồi thường: Buộc Tập đoàn và Công ty liên đới bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Đ V H s tiền trên, mỗi bên ph i bồi thường ½. Cụ thể: Tập đoàn ph i bồi thường s tiền là 75.909.618đ; Công ty ph i bồi thường s tiền là 75.909.618đ, Công ty đ bồi thường trước 11.000.000đ, nên c n ph i bồi thường tiếp là 64.909.618đ;
Về án phí dân sự sơ thẩm: Tập đoàn ph i chịu là 3.795.481đ. Công ty ph i chịu là 3.245.481đ. Do sửa b n án sơ thẩm nên đương sự có kháng cáo không ph i chịu án phí dân sự phúc thẩm.
uan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh u ng Ng i phù hợp một phần với nhận định trên nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
YẾ ỊN :
Căn cứ Điều 147, kho n 2 Điều 308 Bộ luật T tụng Dân sự; các Điều 584, 585, 587, 597, 605 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ u c hội về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n l , sử dung án phí và lệ phí Tòa án.
uyên xử:
- Sửa B n án dân sự sơ thẩm s 13/2018/DS-ST ngày 26/10/2018 của T a án nhân dân huyện N về tranh chấp “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”.
- Không chấp nhận kháng cáo của và Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam, của Công ty TNHH Gỗ H D, của ông Đ V H; chấp nhận kháng cáo của ông Đ C.
- Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Đ V H, buộc Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam và Công ty TNHH Gỗ H D ph i liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho ông Đ V H s tiền là 151.819.236đ (Một trăm năm mươi m t triệu, tám trăm mười chín nghìn, hai trăm ba mươi sáu đồng), mỗi pháp nhân ph i chịu ½ s tiền bồi thường, cụ thể:
+ Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam ph i bồi thường s tiền là 75.909.618đ (b y mươi lăm triệu, chín trăm lẻ chín ngàn, sáu trăm mười tám đồng).
+ Công ty TNHH Gỗ H D ph i bồi thường s tiền là 75.909.618đ, đ bồi thường trước 11.000.000đ, nên c n ph i bồi thường tiếp s tiền là 64.909.618đ (sáu mươi tư triệu, chín trăm lẻ chín ngàn, sáu trăm mười tám đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đ V H với s tiền là 38.799.181đ (Ba mươi tám triệu, b y trăm chín mươi chín nghìn, một trăm tám mươi m t đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam ph i chịu là 3.795.481đ (Ba triệu, b y trăm chín mươi lăm nghìn, b n trăm tám mươi m t đồng); Công ty TNHH Gỗ H D ph i chịu là 3.245.481đ (Ba triệu, hai trăm b n mươi lăm nghìn, b n trăm tám mươi m t đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam và Công ty TNHH Gỗ H D không ph i chịu án phí dân sự phúc thẩm. S tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm của Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam tại Biên lai thu tạm ứng án phí s AA/2016/0004286, ngày 04/12/2018 và của Công ty TNHH Gỗ H D tại Biên lai thu tạm ứng s AA/2016/0004284, ngày 28/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N được trừ vào s tiền án phí dân sự sơ thẩm Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam và Công ty TNHH Gỗ H D ph i chịu.
- Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên ph i thi hành án không thi hành thì bên ph i thi hành án c n ph i tr cho bên được thi hành án s tiền l i theo mức l i suất theo qui định tại kho n 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời hạn chưa thi hành án.
- Trường hợp b n án, uyết định được Thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND t nh u ng Ng i; - TAND huyện Nghĩa Hành; - Chi cục THADS huyện Nghĩa Hành; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, Toà Dân sự. | M. Ộ ỒN XÉ XỬ P ÚC ẨM ẨM P N – C Ủ P N (Đã ký) Võ Minh iến |