vanban.org

Bản án 02/2019/DSPT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 23/01/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác toàn bộ kháng cáo của chị Nguyễn Thị N. Gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 11/2018/DSST Ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T: Buộc bị đơn chị Nguyễn Thị N và anh Phan Công T1 phải liên đới bồi thường cho chị Hoàng Thị T tổng số tiền là: 15.300.000 đồng (Mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa chị Hoàng Thị T và chị Nguyễn Thị N, anh Phan Công T1"
  • Tòa quyết gì? Bác toàn bộ kháng cáo của chị Nguyễn Thị N. Gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 11/2018/DSST Ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:02 /2019/DSPT
Ngày: 23- 01-2019
V/v “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe
bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu

Ông Hồ Đức Quang

Thư ký phiên toà:Bà Nguyễn Huyền Trang -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Lê- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2018/TLPT- DS ngày 03/12/2018 về việc “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2018/DSST Ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/QĐXX-PT ngày 04 tháng 01 năm 2019 gi a các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T. Sinh năm 1990.

Trú tại: Xóm 09, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

(có mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N. Sinh năm 1983 và anh Phan Công T1. Sinh Năm 1974.

Đều trú tại: Xóm 9, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

Vào khoảng 16 giờ, ngày 27/11/2017, chị Hoàng Thị T đi làm về ra vườn hái rau với mẹ, mẹ chị T thấy đàn gà của nhà chị N sang vườn phá rau, mẹ chị T bảo chị T đuổi đàn gà, chị T ra nhặt cục đất ném, đuổi gà xong vào nhà chuẩn bị đi tắm thì nghe chị N đứng ngoài đường gọi và nói sao lại đánh gãy chân còn gà nhà chị N, lúc đó cả chị N và chồng chị N là anh T1 đứng trước cửa nhà chửi bởi, hăm dọa và nói “nếu mi ra đường choa không tha cho mi mô”. Chị T lấy quần áo sang nhà bà V để tắm, khi đi qua cửa nhà bà B, chị N gọi lại nhưng chị T vẫn tiếp tục đi, chị N chạy theo cầm tay chị T và bắt quay lại xem con gà bị gãy chân. Chị T nói “Tôi không biết” và không quay lại nên chị N đã cầm tay chị T, nắm tóc, sau đó anh Phan Công T1 chồng chị N ôm con chạy ra đá vào chân chị T và dùng tay đấm mạnh vào đầu chị T khiến chị T choáng và ngã xuống bên đường. Chị N ngồi lên bụng chị T tay cầm con gà đang sống nhét vào miệng chị T, bắt chị T phải ăn hết con gà. Sau đó chị T được bà con lối xóm cùng người đi đường can ngăn và được đưa đi bệnh viện huyện H, tỉnh Hà Tĩnh điều trị vết T.

Quá trình điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện H, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 27/11/2017 đến ngày 04/12/2017 (8 ngày) ra viện. Đến ngày 01/6/2018 chị T làm đơn khởi yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng chị Nguyễn Thị N và anh Phan Công T1 phải liên đới bồi thường chi phí trong thời gian nằm viện điều trị; bồi thường về sức khỏe, tinh thần và các khoản liên quan khác vì đã gây T tích cho chị T vào ngày 27/11/2017, cụ thể các khoản như sau:

- Tiền ăn hàng ngày trong 8 ngày nằm viện: 01 ngày 60.000đ x 8 ngày = 480.000đ;

- Tiền người phục vụ và tiền ăn: 1 ngày 150.000đ x 8 ngày = 1.200.000đ;

- Tiền xăng xe đi lại trong qúa trình nằm viện: 500.000đ;

- Tiền viện phí và tiền thuốc trong qúa trình nằm viện: 1.589.000đ;

- Tiền thuốc do bác sỹ kê đơn: 720.000đ;

- Thu nhập thực tế bị mất 1 ngày 300.000đ x 8 ngày = 2.400.000đ;

- Tiền tổn thất về tinh thần: 10.000.000đ;

Tổng các khoản tiền yêu cầu là: 16.889.000 đồng (Bằng ch : mười sáu triệu tám trăm tám mươi chín ngàn đồng)

Bị đơn chị Nguyễn Thị N trình bày :

Khoảng 15 giờ ngày 27/11/2017 chị N đang hái rau ở vườn nhà mình phát hiện chị T bắt trộm gà nhà mình rồi bẻ gãy cổ, gãy chân, chị N hô lên trộm gà nên chị T vứt gà xuống đất chạy vào nhà trốn, chị N gọi mãi chị T nhưng không trả lời. Sau đó chị N cầm con gà vào nhà, một lúc sau chị T đi qua cổng nhà chị N thì chị N có hỏi “Tại sao mi bắt trộm gà tao mà không có ý kiến chi” và hai bên lời qua tiếng lại, xô đẩy, níu tóc nhau, chị T cắn chị N, chị N cắn lại chị T, sau đó được mọi người can ngăn nên chị N về nhà. Do xô xát nhau chị N miệng bị cháy máu, đau đầu và buồn nôn nên đã tự mua thuốc tây ở quầy thuốc chị T2 tại xã P nhưng không khỏi nên đến ngày 08/1/2018 thì nhập viện và đến ngày 14/1/2018 ra viện. Việc chị T yêu cầu bồi thường số tiền kê khai trong đơn khởi kiện là không đúng sự thật nên chị N không chấp nhận bồi thường một khoản nào.

Lời khai của bị đơn anh Phan Công T1 thể hiện: Khi anh T1 bồng con ra cổng thì chị T và chị N đã mỗi người một nơi. Đơn khởi kiện của chị T là không đúng sự thật cho nên anh T1 không chấp nhận bồi thường, bởi lý do anh T1 không đánh chị T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm 11/2018/DSST Ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 584, Điều 585, 587, 588 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tuyên xử

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T

2. Buộc bị đơn chị Nguyễn Thị N và anh Phan Công T1 phải liên đới bồi thường cho chị Hoàng Thị T tổng số tiền là: 15.300.000 đồng (Bằng ch : Mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất theo mức lãi cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án, trừ T1 hợp có thỏa thuận khác.

T1 hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án phải thực hiện theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Buộc vợ chồng bị đơn chị Nguyễn Thị N và anh Phan Công T1 phải nộp 765.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm nên ngày 02/10/2018 chị Nguyễn Thị N kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Việc xảy ra xô xát nguyên nhân là do chị Hoàng Thị T đã có hành vi trộm cắp gà của chị; việc xảy ra xô xát đều có lỗi cả hai bên nên mỗi bên phải chịu một phần thiệt hại mới công bằng. Tòa tuyên xử buộc chị T phải bồi thường các khoản là chưa hợp lý.

Tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguyễn Thị N vẫn gi nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và nh ng người tham gia tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, bác toàn bộ kháng cáo của chị Nguyễn Thị N. Gi nguyên bản án sơ thẩm số 11/2018/DSST ngày 18/9//2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo đúng thẩm quyền. Đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị N làm trong hạn luật định được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo của chị Nguyễn Thị N thấy rằng:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ cũng như lời trình bày của các đương sự có cơ sở khẳng định: Ngày 27/11/2017 có xảy ra xô xát gi a chị Nguyễn Thị N, anh Phan Công T1 với chị Hoàng Thị T dẫn đến việc chị T phải đi điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Chị N cho rằng sự việc xảy ra nguyên nhân do chị T trộm gà của gia đình chị và việc xảy ra xô xát là lỗi của cả hai bên nên mỗi bên phải chịu một phần thiệt hại. Tuy nhiên, quá trình điều tra, làm việc không chứng minh được có việc chị T bắt trộm gà của gia đình chị N, còn việc chị N, anh T1 đánh dẫn đến chị T phải nằm viện điều trị là có thật và đây là lỗi trực tiếp do hành vi trái pháp luật của chị N, anh T1 gây ra. Hơn Na bản thân vợ chồng chị N cũng không chứng minh được các vết T trên người chị T là do người khác tác động vào.

Trong quá trình điều tra và lấy lời khai của một số người làm chứng cũng khẳng định khi chứng kiến sự việc xô xát gi a các bên thì thấy chị N dùng tay nắm và giật tóc chị T làm chị T ngã xuống đường và bị xây xát. Đồng thời chị N còn ngồi lên người và nhét con gà vào miệng chị T. Còn anh T1 thì dùng chân đá vào người chị T. Xét thời điểm gây T tích cho chị T thì chị N, anh T1 đều có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại đến sức khỏe của chị T nhưng vẫn cố tình thực hiện, dẫn đến sức khỏe, tinh thần, kinh tế của chị Hoàng Thị T phần nào bị thiệt hại.

Từ nh ng nhận định trên có căn cứ khẳng định việc chị T bị T và phải vào viện điều trị hoàn toàn do lỗi của vợ chồng chị N, anh T1.

Đối với các khoản tiền mà chị N và anh T1 phải bồi thường cho chị T cụ thể như:

+ Tiền thuốc theo đơn ngày 30/11/2017 là 720.000đ;

+ Tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị 08 ngày x 300.000đ = 2.400.000đ;

+ Tiền bồi dưỡng sức khỏe sau ra viện với số tiền là: 08 ngày x 60.000đ/ngày = 480.000đ;

+ Tiền công người phục vụ trong thời gian chị T nằm viện là: 08 ngày x 150.000đ/ngày = 1.200.0000đ.

+ Tiền thuê xe đi Bệnh viên huyện H Hà Tĩnh đi và về bằng xe mô tô = 500.000đ.

Xét thấy đây là các khoản chi phí thực tế, hợp lý, có hóa đơn chứng từ nên cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.

Đối với khoản tiền tổn thất về tinh thần 10.000.000đ mà chị T yêu cầu. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ khoản 2 điều 591 BLDS năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để chấp nhận khoản yêu cầu này của chị T là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Từ nh ng phân tích trên, xét thấy kháng cáo của chị Nguyễn Thị N là không có cở sở chấp nhận nên cần bác toàn bộ kháng cáo của chị N. Gi nguyên bản án sơ thẩm.

3. Về án phí: chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 584, Điều 585, 587, 588 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tuyên xử:

1. Bác toàn bộ kháng cáo của chị Nguyễn Thị N. Gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 11/2018/DSST Ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T:

Buộc bị đơn chị Nguyễn Thị N và anh Phan Công T1 phải liên đới bồi thường cho chị Hoàng Thị T tổng số tiền là: 15.300.000 đồng (Mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất theo mức lãi cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án, trừ T1 hợp có thỏa thuận khác.

T1 hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án phải thực hiện theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí:

- Buộc vợ chồng chị Nguyễn Thị N và anh Phan Công T1 phải nộp 765.000 đồng (Bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số tạm ứng án phí số 0004229 ngày 2/10/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nay còn phải nộp 765.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ