vanban.org

Bản án 02/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Dương Tiến L phải trả cho Ngân hàng tiền gốc là 23.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. 2/ Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NHCSVN- Dương Tiến L"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Dương Tiến L phải trả cho Ngân hàng tiền gốc là 23.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2019/DS- ST
Ngày 10- 01- 2019
V/v: tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thắm

2. Ông Nguyễn Văn Hạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa: Bà: Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2018/TLST- DS ngày 30 tháng 10 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2018 /QĐXX- ST ngày 19 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.

Địa chỉ: Tòa nhà CC5, Bán đảo Linh Đàm, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T- Chức vụ: Tổng GĐ

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cù Minh T - Chức vụ: GĐ phòng giao dịch NHCSXH huyện Nga Sơn (Văn bản ủy quyền số 4716/QĐ-NHCS, ngày 25 tháng 11 năm 2016)

Người được ủy quyền lại: Ông Lê Phan Q - Chức vụ: Phó GĐ phòng giao dịch NHCSXH huyện Nga Sơn (Giấy ủy quyền tham gia tố tụng, ngày 01/11/2018)

2. Bị đơn: Ông Dương Tiến L - Sinh năm: 1957

Địa chỉ: Thôn 4, xã Nga V, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Phiên tòa có mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/8/2018, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: căn cứ hợp đồng vay vốn số 6000002700041408, ngày 15 tháng 10 năm 2009, ngân hàng đã giải ngân cho ông Dương Tiến L vay số tiền 25.200.000đ; lãi suất 0,5%/tháng; thời hạn trả nợ 16/3/2016; mục đích vay tiền hỗ trợ sinh viên học tập (con trai ông L).

Ngày16/6/2018 ông L trả được 2.000.000đ tiền gốc; về tiền lãi từ ngày 15/10/2009 đến ngày 10/01/2018 là 13.525.257đ, ông Lượng đã trả được 2.006.521đ.

Số tiền gốc còn lại là 23.200.000đ và 11.518.736đ tiền lãi thì ông không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng đã ra thông báo đôn đốc ông L có kế hoạch trả nợ nhưng ông cố tình không thực hiện. Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông L có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi trên theo quy định.

* Tại bản tự khai ngày 05/11/2018, bị đơn ông Dương Tiến L trình bày: Ông thống nhất các nội dung: về ngày tháng năm vay, số tiền vay, số tiền gốc và lãi đã thanh toán, số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh như Ngân hàng đề nghị. Do điều kiện kinh tế gặp khó khăn, vợ mất, bản thân đau ốm, con chưa xin được việc làm nên ông không có điều kiện để trả nợ cho Ngân hàng. Ông đồng ý trả số tiền gốc và tiền lãi cho Ngân hàng, nhưng ông xin Ngân hàng cho ông thời gian để trả nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, các bên thống nhất số tiền gốc và lãi như đã trình bày. Tuy nhiên, bị đơn không thống nhất về thời gian và phương thức trả nợ cho Ngân hàng. Do vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị ông L có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc là 23.200.000đ; tiền lãi là 11.518.736đ. Đối với bị đơn ông L vẫn xin Ngân hàng cho ông thời gian để thu xếp trả nợ tiền gốc và lãi trên.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn.

* Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của Nguyên đơn: Ngân hàng sau khi thẩm định và giải ngân cho ông L vay số tiền 25.200.000đ. Do ông L vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, đã được đôn đốc về việc quá hạn nhiều lần, nhưng bị đơn không thực hiện. Ngân hàng yêu cầu ông L phải có nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc và lãi trên cho Ngân hàng.

Xét yêu cầu của bị đơn: Ông L thống nhất số tiền gốc và tiền lãi như Ngân hàng đề nghị. Ông đồng ý thanh toán các khoản nợ trên cho Ngân hàng, nhưng ông xin thời gian để trả nợ do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn.

Xét việc vay nợ của các đương sự: Ngân hàng cho ông L vay số tiền 25.200.000đ, với mục đích học chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn là hoàn toàn thực tế. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn thanh toán được tiền nợ gốc 2.000.000đ và lãi 2.006.521đ. Số tiền gốc 23.200.000đ và tiền lãi tính đến ngày 10/01/2018 còn lại là 11.518.736 thì ông cố tình không thực hiện theo nội dung cam kết trong hợp đồng. Ngân hàng đề nghị ông L thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc và lãi như trên hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng để xem xét.

Về án phí: Ông Dương Tiến L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí kèm theo. Xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.

Buộc ông Dương Tiến L phải trả cho Ngân hàng tiền gốc là 23.200.000đ; tiền lãi là 11.518.736đ. Tổng cộng 34.718.736đ (Ba tư triệu bảy trăm mười tám nghìn bảy trăm ba sáu đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí:

Ông Dương Tiến L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (DSST) là 1.736.000đ (Một triệu bảy trăm ba sáu nghìn đồng)

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các đương sự. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ