vanban.org

Bản án 02/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Q1: Buộc vợ chồng ông Q2 và bà H phải liên đới bồi thường cho bà Q1 các khoản: Tiền mua thuốc, thu nhập bị mất của bà Q1 và chị L, với số tiền: 2.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Không chấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bà Lê Thị Q1- Ông Lê Thanh Q2, bà Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Q1: Buộc vợ chồng ông Q2 và bà H phải liên đới bồi thường cho bà Q1 các khoản: Tiền mua thuốc, thu nhập bị mất của bà Q1 và chị L, với số tiền: 2.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản ánsố: 02/2019/DS-ST
Ngày: 06/11/2019
“V/v: Tranh chấp về yêu cầu bồithường thiệt hại
do sức khỏe bịxâmphạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Duân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Sơn

2. Ông Nguyễn Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Đào – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 38/2018/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2019, về việc: “Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2019, quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2019/QĐST-DS ngày 08/10/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Q1, sinh năm: 1957, địa chỉ: Thôn VC, xã VH, huyện VT, tỉnh Bình Định – Có mặt.

2. Đồng Bị đơn: Ông Lê Thanh Q2, sinh năm: 1979 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1983, cùng địa chỉ: Thôn VC, xã VH, huyện VT, tỉnh Bình Định – Đều có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1992, địa chỉ: Thôn VC, xã VH, huyện VT, tỉnh Bình Định – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 09/5/2019, được bổ sung bằng các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thị Q1 trình bày:

Bà và bị đơn ông Q2 vốn là chị em ruột với nhau, nhưng xuất phát từ việc: Nguyên trước đây mẹ ruột của ông bà (Là bà Nguyễn Thị X) có trồng 01 vườn cây sầu đâu đã lâu năm, gia đình bà đã từng cho ông Q2 khai thác các cây sầu đâu để làm nhà riêng, còn chừa lại 02 cây sầu đâu (không thẳng) để cho bà X. Vào năm 2012, bà có hỏi bà X để bà mua 02 cây sầu đâu, bà X đồng ý bán với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Thế nên bà xác định 02 cây sầu đâu còn lại trong vườn là của bà.

Tuy nhiên vào lúc 13 giờ 00 phút, ngày 19/8/2018, ông Q2 tự nhiên vác cưa lốc đến sau vườn nhà của bà để chuẩn bị cưa cây sầu đâu bán cho ông Lê Văn V. Trong khi trước đó ông Q2 không hề hỏi ý kiến bà, nên bà rất bức xúc, ngay lập tức bà chạy ra can ngăn, không cho ông Q2 cưa cây.

Bà cho rằng: Khi bà ngăn cản không cho cưa cây thì ông Q2 cầm 01 cái thang sắt đẩy mạnh vào ngực bà để chống đối, bà H (Vợ ông Q2) xuất hiện và dùng tay đấm vào đầu, vào mặt, vào người bà. Bà bỏ chạy thì ông Q2 đuổi theo đạp bà ngã xuống đất, rồi ông Q2 xô bà ngã xuống mương nước thủy lợi, dìm đầu bà 03 lần xuống mương nước. Lúc này bà nhìn thấy bà H cũng đang dìm chị L dưới mương; Bà H thả chị L ra, rồi túm tóc bà giật ngửa đầu bà ra dìm đầu bà xuống mương nước. Bà H dùng tay dập đầu bà vào bờ mương, dùng chân đạp vào bụng, vào ngực bà. Chị L thấy thế nên kêu cứu, ngay lúc đó bà cũng túm được tóc bà H, hai bên vật lộn nhau dưới mương nước. Chị L tiếp tục la kêu cứu bảo bà H thả bà ra. Rồi ông Q2 giơ tay túm tóc chị L, chị L kéo cổ áo ông Q2. Lúc này cả 04 người (Q1, Q2, H, L) đều ở dưới mương nước túm tóc nhau, giằng co nhau qua lại. Một lát sau, cả 04 người thả tay nhau ra và cùng nhau lên bờ.

Bà vội vàng chạy đến cây sầu đâu để ngăn không cho ông Q2 cưa. Thấy thế, ông Q2 xách máy cưa giơ lên cao (Chưa nổ máy), bảo bà tránh ra để cưa cây. Bà không đồng ý, ông Q2 cầm máy cưa lốc hạ xuống, lưỡi cưa trúng vùng đầu bà, làm chảy máu đầu. Hậu quả, bà bị thương tích phải điều trị tại Trung tâm y tế huyện VT từ ngày 19/8/2018 đến ngày 05/9/2018. Nên nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Q2 và bà H phải bồi thường thiệt hại cho bà với tổng số tiền là: 6.808.000đ, gồm các khoản sau:

+ Tiền mua thuốc: 188.000đ;

+ Chi bồi dưỡng khi nằm viện: 20.000đ/ngày x 16 ngày = 320.000đ;

+ Tiền thu nhập bị mất của bà (Q1) trong thời gian nằm viện: 150.000đ/ngày x 16 ngày = 2.400.000đ;

+ Tiền thu nhập bị mất của chị L – người trực tiếp nuôi bà Q1 trong thời gian bà Q1 nằm viện: 150.000đ/ngày x 16 ngày = 2.400.000đ;

+ Tiền thu nhập bị mất của bà Q1 phải ở nhà điều trị sau khi ra viện: 150.000đ/ngày x 10 ngày = 1.500.000đ.

Trong các bản tự khai và lời khai có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa hôm nay, đồng bị đơn ông Lê Thanh Q2 và bà Nguyễn Thị H trình bày:

Ông Q2 khai: Khoảng 13 giờ ngày 19/8/2018, ông dẫn ông Lê Văn V và ông Lê Văn X đến nhà mẹ ruột của ông (Là bà Nguyễn Thị X) để ông cắt cây sầu đâu bán cho họ. Đến nơi, bà Q1 từ trong nhà lao ra chặn, bà Q1 nói 02 cây sầu đâu đó là của bà ấy, bà Q1 không đồng ý bán cho ai cả. Nghe vậy, ông V và ông X ra về ngay.

Thấy thế, ông đã gặp bà X và hỏi chuyện tại chuồng heo gần bờ mương nước thủy lợi, ông nói chuyện bà X được 01 lát thì nghe tiếng la loạn xạ, ông nhìn thấy 03 người là: Vợ ông (bà Nguyễn Thị H), bà Lê Thị Q1 và chị Nguyễn Thị L đang giằng co qua lại dưới mương nước. Ngay lúc đó, ông nhìn thấy có anh Lê Trung Th, chị Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị H1 cũng vừa có mặt tại sát bờ mương nước. Khi ông chạy đến bờ mương nước thì cả 03 người (H, Q1, L) đều đã leo lên bờ mương. Ông khẳng định ông không có hành vi gây thương tích cho bà Q1, nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q1. Ông cho rằng: Việc bà Q1 bị thương trên vùng đầu có thể là do trong lúc bà Q1, bà H, chị L giằng co với nhau dưới mương nước đã trúng lau sậy dưới nước nên bà Q1 bị vết cắt trên vùng trán gây chảy máu, chứ không phải do ông đặt máy cưa trên đầu bà Q1 như bà Q1 khai. Chính bà Q1 đã ném máy cưa của ông xuống mương nước, làm máy cưa bị hư, ông sửa hết 1.060.000đ (Một triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng). Nay ông yêu cầu bà Q1 phải bồi thường cho ông đủ số tiền này.

Bà H khai: Khoảng 13 giờ ngày 19/8/2018, khi bà đang ở nhà sàng sẩy lúa thì thấy ông V ra về, bà hỏi vì sao không cắt cây sầu đâu, ông V nói do bà Q1 không cho cắt cây nên ra về. Nghe vậy, bà vội chạy đến xem sao. Khi chạy đến bờ mương nước thủy lợi, nơi trồng cây sầu đâu thì gặp bà Q1, bà hỏi bà Q1 vì sao cha mẹ đã cho vợ chồng cây sầu đâu mà bây giờ bà dành, rồi hai bên tranh cãi. Lúc đó thấy chị Nguyễn Thị L có mặt, chị L dùng tay xô ngã bà xuống mương nước, ngay lập tức bà đứng dậy dùng tay kéo áo chị L làm chị L cũng rớt xuống mương nước. Bà và chị L dùng tay nắm đầu tóc nhau qua lại. Lúc đó, bà Q1 tự nhảy xuống mương nước, bà bị bà Q1 nắm đầu, chị L nắm cổ áo, cả hai mẹ con đè, nhận bà xuống mương nước. Bà có nói chị L là nếu nắm cổ áo bà mà làm đứt dây chuyền thì bà sẽ bắt đền, chị L nghe thế nên thả tay nắm cổ áo, còn bà Q1 vẫn cứ nắm đầu tóc bà giữ nguyên như ban đầu. Lúc này, khi bị hai mẹ con bà Q1 đè xuống mương nước, bà ngồi thụp xuống thì mực nước mương tới cổ. Bà nhìn trên bờ nghe tiếng bà H1, ông Th, chị C nói sao 02 người mà nhận nước 01 người, tất cả họ bảo hai mẹ con bà Q1 thả tay ra. Bà Q1 không thả tay, nhưng một lát sau chị L gỡ tay bà Q1 ra. Rồi cả 03 lên bờ mương.

Khi lên đến bờ mương nước, bà nhìn thấy bà Q1 cầm cái máy cưa của ông Q2 quăng xuống mương nước. Một lúc sau, ông Q2 đến và hỏi máy cưa đâu thì bà Q1 nói đã quăng xuống mương nước, nên ông Q2 xuống mương nước lấy máy cưa lên. Các bên giải tán liền ngay sau đó.

Vợ chồng bà không gây thương tích gì đối với bà Q1 nên nay với yêu cầu khởi kiện của bà Q1, vợ chồng bà không chấp nhận.

Trong bản tự khai và các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị thống nhất lời khai của nguyên đơn bà Q1 là đúng thực tế diễn ra. Vào khoảng hơn 13 giờ ngày 19/8/2018, khi chị đang ở nhà ông T ở cùng thôn thì nghe tiếng bà Q1 kêu cứu. Chị vội vàng chạy ra xem thế nào thì nhìn thấy ông Q2 dùng thang sắt thả dập liên tục vào người bà Q1. Bà H đứng sát bên ông Q2, dùng tay đấm vào mặt bà Q1. Chị vội nắm ông Q2 kéo ra. Trong lúc chị ra can ngăn, không cho ông Q2 đánh bà Q1 thì chị bị bà H nắm tóc, hai bên giằng co, chị bị rớt xuống mương nước thủy lợi. Khi chị nhoài người lên thì bà H dùng hai tay đẩy chị vào thành mương nước. Chị giơ tay nắm được cổ áo bà H, lúc này chị nhìn sang bên cạnh thấy ông Q2 đang năm đầu bà Q1 dìm cả người bà Q1 xuống mương nước. Chị có bảo ông Q2 thả bà Q1 ra, ban đầu ông Q2 không thả, một lát sau mới thả bà Q1 ra. Tiếp đó, H đi đến túm tóc bà Q1, dìm cả người bà Q1 xuống mương nước. Q2 cũng với tay nắm đầu tóc chị, chị gượng dậy nắm cổ áo ông Q2. Lúc này 04 người đều đang ở dưới mương nước, Q2 bảo chị thả cổ áo ra, nhưng chị không thả, đến lần thứ 03 khi Q2 yêu cầu chị thả cổ áo Q2 ra thì chị mới thả. Ngay lúc đó Q2 bước tới dùng tay nắm tóc bà Q1 giật ngửa bà Q1 ra, trong lúc bà H và bà Q1 cũng đang nắm tóc nhau, Q2 nói: “Cỡ bà tôi xách 01 tay chứ mấy”, bà Q1 có nói: “Có thả thì cùng thả”, rồi ông Q2, bà H và bà Q1 cùng thả tay ra. Sau đó 04 người (Q1, Q2, H, L) cùng lên bờ. Bà Q1 chạy đến cây sầu đâu, ông Q2 dùng hai tay xách máy cưa giơ lên cao (Chưa nổ máy), bảo bà Q1 tránh ra để ông Q2 cưa cây, nhưng bà Q1 không đồng ý, nên ông Q2 tiếp tục giơ máy cưa lên cao và hăm dọa: “Bà không tránh, tôi cưa đầu bà”, rồi ông Q2 cầm máy cưa lốc hạ xuống, lưỡi cưa trúng vùng đầu bà Q1, làm bà Q1 bị chảy máu đầu. Ngay tại hiện trường lúc đó có em họ con cậu ruột, chị bảo em gái về nhà lấy bột ngọt để đắp lên vết thương đầu của bà Q1. Lúc này ông Lê Trung Th bảo các bên về tắm rửa, sau đó chị chở bà Q1 đi báo cáo Công an viên, trưởng thôn VC nhưng không gặp được ai nên chị chở bà Q1 lên Trung tâm y tế huyện VT để điều trị.

Trong thời gian bà Q1 nằm viện điều trị từ ngày 19/8/2018 đến ngày 05/9/2018 thì chị là người trực tiếp lo cơm nước, chăm sóc cho bà Q1.

Nay chị thống nhất với bà Q1 về yêu cầu phía đồng bị đơn bồi thường tiền thu nhập bị mất của chị – người trực tiếp nuôi bà Q1 trong thời gian bà Q1 nằm viện: 150.000đ/ngày x 16 ngày = 2.400.000đ, chị không có yêu cầu nào khác.

Trong các lời khai có trong hồ sơ vụ án, những người làm chứng ông Lê Trung Th, bà Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị C đều chỉ khai chứng kiến thấy bà Q1 và chị L đang dùng tay dìm đầu bà H xuống mương nước; Trong lúc đó ông Q2 đang ngồi nói chuyện với mẹ ruột tại chuồng heo nhà bà Q1, cách mương nước khoảng 10 mét; Không ai nhìn thấy ông Q2 hay bà H có hành vi nào xâm phạm đến sức khỏe của bà Q1.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị X khai: Bà xác nhận bà đã bán 02 cây sầu đâu cho bà Q1 với giá 300.000đ để bà trả tiền thuốc, nên 02 cây sầu đâu thuộc quyền sở hữu của bà Q1; Riêng về diễn biến sự việc trước đó bà không biết, nhưng sau khi các bên đã cãi nhau tại gốc cây sầu đâu xong thì ông Q2 có đến nói chuyện với bà ngay tại gốc cây xoài gần chuồng heo trong vườn nhà bà. Sau khi nghe bà nói đã bán 02 cây sầu đâu cho bà Q1 thì ông Q2 ra về liền ngay sau đó.

Người làm chứng ông Lê Văn X khai xác nhận việc: Ông có ý định đi mua cây sầu đâu, nhưng khi đến xem cây thì bà Q1 ngăn cản không bán, nên ông ra về liền, không biết diễn biến sự việc xảy ra sau đó.

Người làm chứng bà Lê Thị Bạch T và bà Lê Thị M đều khai: Không trực tiếp chứng kiến diễn biến sự việc xảy ra giữa các đương sự, nhưng cả 02 bà đều thấy tình trạng bà Q1 lúc đó bị ướt toàn thân, mặt dính đầy bùn, nhìn thấy vệt máu chảy trên vùng trán, vùng mặt của bà Q1, nhưng cụ thể bà Q1 bị thương tích ở đâu thì 02 bà không xác định được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa hôm nay đã đủ cơ sở xác định, vào ngày 19/8/2018, giữa bà Lê Thị Q1 và ông Lê Thanh Q2, bà Nguyễn Thị H có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ việc mua bán hai cây sầu đâu. Ông Q2 cho rằng hai cây sầu đâu đó đã được cha mẹ cho ông, nên ông tự ý bán cho ông V, ông X mà không biết mẹ của ông đã bán hai cây đó cho bà Q1. Từ đó, hai bên có hiểu lầm dẫn đến xích mích, cãi vả.

Bà Q1 khai vì không cho ông Q2 cưa hai cây sầu đâu nên ông Q2 đã dùng thang sắt dựng bên cạnh cây sầu đâu ập vào người bà, bà H dùng tay đấm vào đầu, vào mặt bà. Bà bỏ chạy thì bị ông Q2 dùng chân đạp bà rớt xuống mương nước, ông Q2 bà H xuống mương nắm tóc dìm bà xuống nước. Những hành vi này của ông Q2, bà H đã làm bà bị đa chấn thương phần mềm. Ông Q2 còn dùng máy cưa (không nổ máy) đưa lên cao rồi hạ xuống làm lưỡi máy cưa trúng đầu bà gây chảy máu, phải may 1 mũi. Không thống nhất với lời khai bà Q1, Ông Q2 cho rằng mình không đánh bà Q1, không đạp bà Q1 xuống mương, không nắm tóc dìm đầu bà Q1 dưới mương nên không đồng ý bồi thường cho bà Q1. Ông chỉ thấy bà Q1, bà H (là vợ ông) và chị L giằng co dưới mương nước.

Bà H cũng cho rằng: bà và bà Q1 có cãi nhau về việc bà Q1 không cho chồng bà cưa cầy sầu đâu nhưng không có việc đánh bà Q1 bị thương. Bà còn bị chị L (con gái bà Q1) xô xuống mương, bà Q1 và chị L xuống mương nắm tóc bà, giằng co qua lại rồi 03 người cùng lên bờ. Khi lên bờ, bà Q1 còn lấy máy cưa của chồng bà thả xuống mương, làm máy cưa bị hư.

Ông Q2, bà H đều cho rằng mình không gây thương tích cho bà Q1 nên không chấp nhận yêu cầu bồi thường cho bà Q1.

Qua kết quả xác minh, các nhân chứng vụ án xác nhận không thấy thang sắt nào dựng tại cây sầu đâu khi sự việc xô xát xảy ra. Các nhân chứng chỉ thấy bà Q1 và chị L cùng nhau nắm tóc, dìm đầu bà H ở dưới mương nước. Khi lên bờ, trên trán của bà Q1 bị chảy máu, nhưng không nhiều, quần áo của bà Q1, bà H và chị L bị ướt sũng. Đồng thời, từ khi ông V, ông X ra về thì ông Q2 và mẹ của ông cùng ngồi cạnh chuồng heo nhà bà Q1 nói chuyện cho đến khi bà Q1, bà H và chị L từ dưới mương nước lên, quần áo của ông Q2 khô ráo, không bị dính nước. Sau khi dưới mương nước lên, bà Q1 và bà H có cãi nhau rồi ai về nhà nấy. Còn ông Q2 thì lấy máy cưa từ dưới mương nước lên do bà Q1 ném xuống. Hai bên có cãi vả một lúc thì ông Q2 đi về.

Theo kết quả y chứng của Trung tâm y tế huyện VT thể hiện: bà Q1 nhập viện lúc 16 giờ cùng ngày, do “đa chấn thương phần mềm, vết thương ở đầu”.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Q2 thừa nhận có nhìn thấy bà Q1 bị thương ở đầu sau khi từ mương nước lên. Các nhân chứng đều khai họ nhìn thấy bà Q1 bị vết thương cháy máu ở đầu khi xảy ra xích mích, tranh cãi với vợ chồng ông Q2, bà H; nhìn thấy bà H cùng bà Q1, chị L giằng co nhau dưới mương nước, khi lên bờ bà Q1 có vết thương ở đầu chảy máu. Trong quá trình tranh cãi với ông Q2, giằng co với bà H, bà Q1 bị thương phải đi bệnh viện nên việc ông Q2, bà H phải chịu hậu quả thương tích cho bà Q1 gây ra là có cơ sở. Vì vậy, việc bà Q1 yêu cầu vợ chồng ông Q2, bà H phải bồi thường thiệt hại sức khỏe do mình gây ra là có cơ sở chấp nhận.

Tuy nhiên, bà Q1 cũng có một phần lỗi vì bà là người làm chị (chị ruột ông Q2, chị chồng bà H) nhưng từ mâu thuẫn nhỏ, không tìm cách hòa giải, không chọn cách xử sự hợp tình, hợp lý giữa chị em để giải quyết dẫn đến thương tích cho bản thân nên bà cũng phải chịu một phần trách nhiệm cho thiệt hại đã xảy ra. Nhưng vợ chồng ông Q2, bà H vẫn phải chịu trách nhiệm chính, do đó, bà Q1 phải chịu 1/3 thiệt hại xảy ra, vợ chồng ông Q2, bà H phải chịu 2/3 thiệt hại đã gây ra.

Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 thì căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Q1 là có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, áp dụng Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật dân sự 2015 năm 2015 chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Q1, buộc vợ chồng ông Lê Thanh Q2 và bà Nguyễn Thị H phải bồi thường số tiền 2/3 trên tổng số tiền 4.028.000 đồng (bao gồm các khoản: tiền thuốc theo đơn bác sĩ: 188.000 đồng, tiền công mất thu nhập của bà Q1 trong 16 ngày x 120.000đ là 1.920.000đ; tiền công mất thu nhập của chị L trong 16 ngày x 120.000đ là 1.920.000đ). Không chấp nhận yêu cầu của bà Q1 về số tiền 320.000đ bồi dưỡng lúc nằm viện, số tiền 1.500.000đ thu nhập bị mất sau khi xuất viện vì không có cơ sở theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bác yêu cầu của ông Q2 về việc yêu cầu bà Q1 bồi thường số tiền 1.060.000đ sửa chữa máy cưa bị hư vì không có cơ sở xác định bà Q1 là người làm hư máy cưa của ông Q2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng, đủ về thủ tục tố tụng, tạo điều kiện, đảm bảo quyền của đương sự tham gia tố tụng theo quy định. Các đương sự đều chấp hành nghiêm túc, đầy đủ.

. Về nguyên nhân xảy ra tranh chấp: Bà Q1 và ông Q2 vốn là chị em ruột, nhưng do không biết nhường nhịn, lại thường xuyên hơn thua nhau nên xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt về việc mua bán, cưa 02 cây sầu đâu trong vườn nhà, mà các bên đã không thể tự thương lượng giải quyết, dẫn đến xảy ra sự việc tranh chấp, giằng co, xô xát vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 19/8/2018.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Q1: Bà Q1 giữ nguyên lời khai và yêu cầu khởi kiện, mặc dù phía đồng bị đơn ông Q2 và bà H không thừa nhận việc có các hành vi như: dùng tay đánh, đấm, dùng chân đá vào người, xô bà ngã, dìm bà Q1 xuống mương nước thủy lợi, hoặc ông Q2 dùng máy cưa lốc hăm dọa cưa đầu bà Q1, ông Q2 cầm máy cưa lốc giơ lên cao rồi hạ xuống đầu bà Q1, mũi cưa làm bà Q1 bị chảy máu đầu.

Nhưng xét hậu quả bà Q1 bị thương tích phải điều trị tại Trung tâm y tế huyện VT từ ngày 19/8/2018 đến ngày 05/9/2018, với chẩn đoán của bác sĩ là bệnh chính: “Đa chấn thương phần mềm, vết thương đầu/Đánh nhau”; Theo Giấy chứng nhận thương tích số 05/CN-TT ngày 11/10/2019 của Trung tâm y tế huyện VT, khám lâm sàng cho bà Lê Thị Q1 nhận thấy : “ …Vùng đỉnh đầu có vết thương dài khoảng 1 cm, bờ gọn, chảy máu; Đùi + cẳng chân có vài vết bầm tím; Đau nhức vùng cổ lan xuống vai 02 bên; Vùng cẳng tay (T) sưng bầm tụ máu; Chấn thương màng liên cốt cẳng tay (T); Đau nhức vùng ngực (T) khoảng gian sườn IX, X; Mất thăng bằng, chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa”.

Như vậy, hoàn toàn có cơ sở để xét việc thực tế vợ chồng ông Q2 và bà H có gây ra thương tích cho bà Q1 ngay tại thời điểm khoảng 13 giờ ngày 19/8/2018, chứ không ai khác.

Tuy nhiên, xét bà Q1 cũng có lỗi trong sự việc này, do bà Q1 không khéo léo tìm cách nói chuyện ôn hòa giữa các bên, chị em trong nhà vốn không hòa thuận, nay càng khiến sự việc càng căng thẳng, mâu thuẫn lên đỉnh điểm.

Chia phần lỗi trong vụ việc này, thì vợ chồng ông Q2 phải chịu lỗi 2/3, bà Q1 phải chịu 01 lỗi 1/3.

Xét, ngày công lao động của bà Q1 và chị L, Tòa án đã xác minh tại địa phương, được biết ngày công lao động phổ thông đối với nữ là 120.000đ/ngày. Nên yêu cầu tiền mất thu nhập ngày công của bà Q1 và chị L chỉ được chấp nhận với mức 120.000đ/ngày/người.

Do vậy, căn cứ theo các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Q1, gồm 2/3 của các khoản sau:

+ Tiền mua thuốc: 188.000đ;

+ Tiền thu nhập bị mất của bà (Q1) trong thời gian nằm viện: 120.000đ/ngày x 16 ngày = 1.920.000đ;

+ Tiền thu nhập bị mất của chị L – người trực tiếp nuôi bà Q1 trong thời gian bà Q1 nằm viện: 120.000đ/ngày x 16 ngày = 1.920.000đ;

Số tiền được chấp nhận là: 4.028.000đ x 2/3 = 2.685.333đ, buộc vợ chồng ông Q2 và bà H phải bồi thường cho bà Q1; Riêng bà Q1 tự chịu trách nhiệm về lỗi của mình tương đương với số tiền 1.342.667đ.

Hội đồng xét xử không chấp nhận: Yêu cầu của bà Q1 về chi bồi dưỡng khi nằm viện là: 20.000đ/ngày x 16 ngày = 320.000đ; Tiền thu nhập bị mất của bà Q1 phải ở nhà điều trị sau khi ra viện: 150.000đ/ngày x 10 ngày = 1.500.000đ, do không phù hợp với thực tế việc điều trị thương tích, không có chỉ định của bác sĩ.

. Xét yêu cầu của bị đơn ông Q2: Ông Q2 cho rằng bà Q1 ném máy cưa của ông xuống mương nước, làm máy cưa bị hư, ông sửa hết 1.060.000đ (Một triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng). Nay ông yêu cầu bà Q1 phải bồi thường cho ông đủ số tiền này.

Xét thực tế sự việc vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 19/8/2018, không ai nhìn thấy bà Q1 ném máy cưa của ông Q2 xuống mương nước. Do vậy, căn cứ theo các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông Q2.

. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc ông Lê Thanh Q2 và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí là 300.000đ, nhưng ông Q2 và bà H được miễn tiền án phí vì thuộc diện hộ nghèo năm 2019.

. Với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 6 Điều 26; Các Điều 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 584, 585, 586, 587, 589, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

- Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Q1: Buộc vợ chồng ông Q2 và bà H phải liên đới bồi thường cho bà Q1 các khoản: Tiền mua thuốc, thu nhập bị mất của bà Q1 và chị L, với số tiền: 2.685.333đ (Hai triệu, sáu trăm tám mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lê Thanh Q2, về việc yêu cầu bà Q1 bồi thường tiền sửa máy cưa với số tiền 1.060.000đ (Một triệu, không trăm sáu mươi nghìn đồng)

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Thanh Q2 và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí là 300.000đ, nhưng ông Q2 và bà H được miễn tiền án phí vì thuộc diện hộ nghèo năm 2019.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ