- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Vũ Thị Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2018/QĐST- VDS | TD, ngày 30 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Tiến Dũng.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Xuân Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018 , tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TD mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 37/2018/TLST- VDS ngày 08 tháng 6 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 119/2018/QĐPH - ST ngày 20 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1944;
Địa chỉ: Thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Tiến Ng, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).
- Người làm chứng: Ông Lê Quang X, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, (Có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Vũ Thị Đ trình bày: Bà và ông Lê Tiến K đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 01 năm 1963 tại Uỷ ban nhân dân xã Hoàng Đan, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình vợ chồng chung sống, đến tháng 01 năm 1966, ông K đi nhập ngũ và tham gia tại chiến trường miền Nam vào tháng 5 năm 1966. Đến tháng 10 năm 1976, ông K trở về địa phương ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD. Đến tháng 3 năm 1977, ông K đã bỏ đi khỏi địa phương từ thời gian đó cho đến nay, không có tin tức gì. Khi bỏ đi khỏi địa phương, ông K cũng không cho gia đình biết ông đi đâu, làm gì, chung sống với ai và có bất kỳ liên lạc gì cho bà và gia đình từ thời gian ông bỏ đi biệt tích cho đến nay. Bà và gia đình đã đi tìm kiếm ông K ở nhiều nơi, kể cả trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không tìm thấy hay có bất cứ thông tin gì của ông K. Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện TD tuyên bố ông Lê Tiến K, sinh năm 1942, nơi cư trú cuối cùng ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là đã chết. Lý do, mục đích bà yêu cầu tuyên bố ông Lê Tiến K là đã chết do bà cần làm thủ tục tặng cho anh Lê Tiến Ng (Là con trai của bà và ông K) 610m2 đất là tài sản của bà và ông K ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Lê Tiến Ng có mặt tại phiên họp trình bày: Anh là con trai của ông Lê Tiến K, sinh năm 1942 có nơi cư trú cuối cùng ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại phiên họp hôm nay anh thống nhất với lời trình bày của bà Vũ Thị Đ yêu cầu tuyên bố ông Lê Tiến K, sinh năm 1942, nơi cư trú cuối cùng ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là đã chết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự, đề nghị Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị Đ tuyên bố ông Lê Tiến K, sinh năm 1942, nơi cư trú cuối cùng ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện TD nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Vũ Thị Đ có đơn yêu cầu tuyên bố ông Lê Tiến K, sinh năm 1942, nơi cư trú cuối cùng ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là đã chết. Đây là việc dân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về nội dung: Bà Vũ Thị Đ và ông Lê Tiến K đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 01 năm 1963 tại Uỷ ban nhân dân xã Hoàng Đan, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống vợ chồng bà Đ, ông K sinh được 01 người con là anh Lê Tiến Ng, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1977. Hiện nay, bà Vũ Thị Đ đang chung hộ khẩu với anh Lê Tiến Ng tại thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng tháng 01 năm 1966, ông K đi nhập ngũ và tham gia tại chiến trường miền Nam vào tháng 5 năm 1966. Đến tháng 10 năm 1976, ông K trở về địa phương ở thôn LS, xã ĐT. Đến tháng 3 năm 1977, ông Lê Tiến K đã bỏ đi, không có mặt tại địa phương và từ thời gian đó cho đến nay ông K cũng không có lần nào trở về địa phương.
Tòa án nhân dân huyện TD đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu là đã chết số 03/2018/QĐ-TA ngày 26 tháng 6 năm 2018 về việc thông báo tìm kiếm thông tin về ông Lê Tiến K, sinh năm 1942 có nơi cư trú cuối cùng ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. Quyết định này đã được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng trong ba số liên tiếp (Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Công lý và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân). Nay xét thấy đã hết thời hạn 04 (bốn) tháng kể từ ngày thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Lê Tiến K còn sống hay đã chết nên Tòa án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ việc trên theo thủ tục chung là có căn cứ và cần thiết.
Như vậy, ông Lê Tiến K đã biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự năm 2015, bà Vũ Thị Đ yêu cầu tuyên bố ông Lê Tiến K, sinh năm 1942, nơi cư trú cuối cùng ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là đã chết là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về ngày chết của ông Lê Tiến K: Theo kết quả xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của ông Lê Tiến K ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc thì ông K đã bỏ đi, không có mặt tại địa phương từ tháng 3 năm 1977 đến nay, không có tin tức gì. Do không xác định được ngày ông Lê Tiến K biệt tích, vì vậy ngày chết của ông Lê Tiến K được xác định là ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng ngày 01 tháng 4 năm 1977.
Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Lê Tiến K: Căn cứ vào trích lục khai sinh số 349/TLKS - BS, ngày 30 tháng 8 năm 2017 thể hiện bà Vũ Thị Đ và anh Lê Tiến Ng có mối quan hệ là vợ và con của ông Lê Tiến K. Theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự 2015 thì quyết định của Tòa án tuyên bố ông Lê Tiến K là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Lê Tiến K được giải quyết như đối với một người là đã chết. Tài sản của ông Lê Tiến K được giải quyết theo pháp luật về thừa kế.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc giải quyết việc dân sự là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Người yêu cầu bà Vũ Thị Đ phải nộp 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 367, 369, 370, 371, 372, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71, Điều 72 của Bộ Luật dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Vũ Thị Đ.Tuyên bố ông Lê Tiến K, sinh năm 1942, nơi cư trú cuối cùng ở thôn LS, xã ĐT, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là đã chết.
2. Ngày chết của ông Lê Tiến K là ngày 01 tháng 4 năm 1977.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Lê Tiến K là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Lê Tiến K được giải quyết như đối với một người là đã chết.
Quan hệ tài sản của ông Lê Tiến K được giải quyết như đối với một người đã chết, theo pháp luật về thừa kế. Tài sản của ông Lê Tiến K được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Vũ Thị Đ không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự. Hoàn trả bà Vũ Thị Đ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: AA/2016/0001023 ngày 06 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện TD.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện TD; - UBND xã Hoàng Đan, huyện TD; - UBND xã ĐT, huyện TD; - Đương sự; - Lưu hồ sơ + Văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Trần Tiến Dũng |